23/10/2014
Quyền của cá nhân trong quan hệ đồng giới tính - Bài tập học kỳ Luật Dân sự 1

Đến nay, trên thế giới đã có 23 nước công nhận quyền của người đồng tính, 19 quốc gia và vùng lãnh thổ đã hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới, 44 nước khác thừa nhận quan hệ chung sống giữa những người cùng giới tính.Để minh họa cho lí do chọn đề tài “Quyền của cá nhân trong quan hệ đồng giới tính”, em muốn trích một đoạn trong bài viết  của Luật gia Trương Hồng Quang : “Thực chất, khi chúng ta nghiên cứu, đánh giá về quyền của người đồng tính sẽ không hề có ý nghĩa muốn cổ vũ cho một trào lưu mới mà nên được hiểu đây chính là thay tiếng nói cho những người đồng tính. Họ không có lỗi trước khuynh hướng giới tính của họ, họ cũng là những con người có đóng góp cho xã hội và cần được chấp nhận một cách bình đẳng, với sự cảm thông và khoan dung hơn của dân tộc Việt Nam.”Đây là một đề tài có một nội dung xã hội phức tạp trong xã hội nước ta hiện nay, vậy nên khi phân tích, em sẽ cố gắng nhìn nhận từ cả 2 phương diện là xã hội và pháp luật.Cụm từ “Người đồng tính” giờ đây không còn xa lạ trong xã hội. Đồng tính  là một xu hướng tính dục, không phải là “giới tính thứ ba”như nhiều người vẫn lầm tưởng. Chúng ta không thể phủ nhận sự tồn tại của người đồng tính. Họ có quyền được sống trong một xã hội cởi mở, tôn trọng sự đa dạng. Vì phạm vi bài tập có hạn, em sẽ phân tích một số quyền của, theo em, là các vấn đề do thực tiễn đặt ra cần giải quyết. Với kiến thức còn hạn chế, chắc chắn em cũng sẽ mắc phải những sai sót về nội dung hoặc hình thức không đáng có. Do vậy, em rất mong mình sẽ nhận được những sự chỉ bảo, giúp đỡ từ phía thầy cô bộ môn.


Em xin chân thành cảm ơn!

NỘI DUNG

I Cơ sở lý luận về quyền cá nhân trong quan hệ đồng tính

1.Cá nhân

Dưới chế độ Xã hội chủ nghĩa, cá nhân được hiểu là: một con người cụ thể trong một xã hội và được phân biệt với các cá nhân khác thông qua tính đơn nhất và phổ biến (Theo Mác – Lenin). Là một thành viên góp phần vào sự phát triển xã hội lịch sử. Cá nhân là sản phẩm của sự phát triển xã hội lịch sử. Đồng thời là chủ thể chủ động tích cực tham gia vào sự phát triển xã hội lịch sử. Từ ông Bộ trưởng, cô lao công của trường Đại học Luật đến bác hàng nước, đều là một cá nhân.

2. Cộng đồng người đồng tính

Tại Việt Nam, hiện nay chưa có cuộc điều tra nào ước lượng số người là đồng tính. Trên thế giới có nhiều nghiên cứu khác nhau nhưng cho các tỉ lệ khác nhau, biến động từ 1% đến 9% người ở độ tuổi sinh hoạt tình dục tự nhận họ là người đồng tính và song tính . Điều tra quốc gia về phát triển gia đình ở Hoa Kỳ năm 2002 cho kết quả 4,1% nam giới và 4,1% nữ giới tự nhận mình là người đồng tính và song tính. Ở Canada, theo kết quả điều tra tháng 6 năm 2012 thì có 5% dân số tự nhận mình là người đồng tính, song tính và chuyển giới . Điều tra quốc gia ở Pháp năm 1991 cho kết quả có 10,7% nam giới và 3,3% phụ nữ có hành vi tình dục đồng giới và 8,5% nam giới và 11,7% phụ nữ thừa nhận có hấp dẫn tình dục đồng giới nhưng không có hành vi quan hệ tình dục đồng giới. Như vậy, nếu lấy tỉ lệ trung bình, “an toàn” mà nhiều nhà khoa học thừa nhận là 3% thì số NĐT tạm tính ở Việt Nam vào khoảng 2,66 triệu người (tính theo dân số Việt Nam năm 2012 có 88,78 triệu người.

Đồng tính, song tính và chuyển giới (viết tắt tiếng Anh là LGBT ) là vấn đề không còn mới mẻ trên thế giới hiện nay. Từ kết quả của các công trình nghiên cứu khoa học, có thể khẳng địnhLGBT là những điều tự nhiên của xã hội loài người, không phải là khiếm khuyết của xã hội, không phải là bệnh và do đó cũng không thể lây lan từ người này sang người khác. APA  đã nêu các dẫn chứng, nghiên cứu để đưa đến kết luận có tính chất hiển nhiên về sự tồn tại của khuynh hướng tính dục đó, nhằm loại bỏ đồng tính luyến ái ra khỏi các bệnh về rối loạn tâm thần và hướng dẫn xã hội giúp đỡ những người đồng tính luyến ái hoà nhập cộng đồng để có cách nhìn cảm thông hơn với những người này. Năm 1973, APA loại đồng tính luyến ái ra khỏi danh sách các triệu chứng và bệnh rối loạn tâm thần. Ngày 17/05/1990 Tổ chức y tế thế giới WHO đã xóa bỏ đồng tính luyến ái ra khỏi danh sách các bệnh tâm thần. Đây là dấu mốc quan trọng góp phần hạn chế những quan niệm sai lầm và người đồng tính.

Trên phương diện khoa học, người đồng tính được xem như người bình hường nhưng thực tế cuộc sống lại đặt người đồng tính vào những nguy cơ bị xâm hại, đe dọa xâm hại đến đời sống của họ xuất phát từ tác động tiêu cực của xã hội. Sau đây là một số lý luận cho quyền cá nhân của người đồng tính trong quan hệ đồng giới tính:

Quyền của người đồng tính có bản chất là quyền tự nhiên  của con người: Chúng ta không được phép loại bỏ người đồng tính ra ngoài vòng pháp luật, mà cần có những quy định rõ ràng nhằm thừa nhận và bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của người đồng tính và xem đó như tất yếu của xã hội.

Quyền của người đồng tính cần được ghi nhận và bảo vệ trong xã hội:Trong luật quốc tế, theo định nghĩa của Văn phòng Cao uỷ Liên hợp quốc thì quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc làm tổn hại đến nhân phẩm và tự do cơ bản của con người. Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền của Liên hợp quốc thể hiện sâu sắc tinh thần đó. Chủ thể được thừa hưởng các quyền con người là tất cả những người đang sống và tồn tại trên thế giới, là “tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay các quan điểm khác, nguồn gốc quốc gia hay xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hay địa vị xã hội, không phân biệt địa vị chính trị, pháp quyền hay quốc tế của quốc gia hay lãnh thổ mà một người xuất thân, cho dù quốc gia hay lãnh thổ đó được độc lập, được đặt dưới chế độ uỷ trị, chưa tự quản hay có chủ quyền hạn chế” (Điều 2). Dưới đây là một số quyền cơ bản mà hiện nay người đồng tính chưa được thụ hưởng đầy đủ:

- Quyền được tôn trọng về phẩm giá của mỗi cá nhân: mọi người sinh ra đều tự do và bình đẳng về phẩm giá và các quyền (Điều 1);

- Quyền tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền; quyền sống, tự do và an toàn cá nhân; quyền được thừa nhận tư cách là con người trước pháp luật ở khắp mọi nơi, bình đẳng trước pháp luật, được pháp luật bảo vệ như nhau, không có bất kỳ sự phân biệt nào; quyền tự do với cuộc sống riêng tư; quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm; quyền làm việc, tự do làm việc, hưởng các điều kiện làm việc như nhau và không bị phân biệt đối xử (các Điều 1, 3, 6, 7, 12, 19 và 23);

- Quyền được bảo vệ, không bị tra tấn hay bị đối xử, xử phạt một cách tàn bạo, vô nhân đạo hay hạ thấp nhân phẩm; được bảo vệ chống lại mọi hành vi, hình thức phân biệt đối xử hoặc xúi giục phân biệt đối xử; quyền được pháp luật bảo vệ chống lại các hành vi can thiệp hoặc xâm phạm đời sống riêng tư, gia đình, nơi ở, danh dự và uy tín; gia đình được nhà nước và xã hội bảo vệ (các Điều 5, 7, 12 và 16);

- Quyền kết hôn và xây dựng gia đình: nam và nữ khi đủ tuổi đều có quyền kết hôn và xây dựng gia đình, không có bất kỳ sự hạn chế nào về chủng tộc, quốc tịch và tôn giáo. Họ được hưởng mọi quyền bình đẳng như nhau khi kết hôn, trong thời gian chung sống và sau khi ly hôn (Điều 16);

- Quyền bình đẳng trong việc hưởng các dịch vụ xã hội (Điều 21);

- Quyền được làm việc, tự do chọn nghề, được có những điều kiện làm việc thuận lợi, chính đáng và được bảo vệ chống lại nạn thất nghiệp (Điều 23).

Việc thừa nhận và bảo vệ quyền cho người đồng tính – một phạm trù của quyền tự nhiên, chỉ mang tính khả thi khi được pháp luật chính thức hoá. Quy định quyền của người đồng tính trong pháp luật vừa đảm bảo cho người đồng tính có cơ sở pháp lý vững vàng để tự bảo vệ quyền lợi cho chính mình và vừa đảm bảo sự tuân thủ, tôn trọng các quyền đó của các chủ thể khác trong xã hội.

Công nhận và bảo vệ quyền của người đồng tính bảo đảm giá trị xã hội của pháp luật:quyền được pháp luật bảo vệ các lợi ích chính đáng là đòi hỏi hợp lý của mọi công dân. Luật pháp khi ban hành phải tính đến quyền lợi chung cho cả cộng đồng, trong đó quyền của những nhóm người thiểu số, dễ bị tổn thương phải được chú ý đến. Nền luật pháp nếu không đề cập quyền lợi của số ít người yếu thế thì không thể là nền luật pháp dân chủ và tiến bộ. Đồng tính luyến ái không phải là hiện tượng xã hội có tính chất tạm thời. Sự tồn tại của hiện tượng này là tất yếu, xuất hiện ở mọi xã hội, trong mọi giai đoạn lịch sử. Sự phát triển của đời sống đã nâng cao các đòi hỏi về quyền tự do, quyền sống của con người. Trong bối cảnh đó, người đồng tính đã nảy sinh các mâu thuẫn với xã hội liên quan đến các yêu cầu được xã hội công nhận sự tồn tại của mình, được đối xử công bằng, được kết hôn như những người khác, với những giá trị truyền thống, chuẩn mực văn hoá, đạo đức lâu đời. Xung đột ngày một mạnh mẽ của các lợi ích ấy đòi hỏi cần có sự điều chỉnh hợp lý của pháp luật. Cần thiết phải có những quy phạm điều hoà, giải quyết mâu thuẫn trên để duy trì trật tự xã hội hợp lý đồng thời bảo vệ toàn diện các quyền cơ bản mà người đồng tính đáng được hưởng. 

II Một số quyền của cá nhân trong quan hệ đồng tính

Hiến pháp 1946 đã khẳng định quyền làm chủ và các quyền cơ bản của nhân dân ta.  Và lần lượt các bản hiến pháp 1959, 1980, 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) đều tiếp tục ghi nhận các quyền cơ bản của công dân.

1. Quyền đối với hình ảnh

1.1.Nội dung quyền hình ảnh của cá nhân

Quyền đối với hình ảnh của cá nhân được hiểu là quyền nhân thân gắn liền với cá nhân được pháp luật ghi nhận và bảo vệ, theo đó, cá nhân được phép sử dụng và cho phép người khác sử dụng hình ảnh của mình.

Cơ sở pháp lý của quyền đối với hình ảnh của cá nhân làKhoản 1 điều 31 Bộ luật dân sự 2005:Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình. 

Nội dung của nó như sau:

Thứ nhất, cá nhân có quyền được phép sử dụng hình ảnh của mình.Đây là quyền nhân thân gắn với tài sản, các yếu tố nhân thân này có thể chuyển giao cho chủ thể khác và theo đó, chủ thể có thể được hưởng 2 lợi ích vật chất nhất định.Thông qua các hoạt động của chính các chủ thể mà họ có thể thực hiện quyền của mình đối với hình ảnh, trong đó có việc tự khai thác giá trị thương mại của hình ảnh. 

Thứ hai,cá nhân có quyền cho người khác sử dụng hình ảnh của mình.Cá nhân có quyền định đoạt cho chủ thể khác sử dụng hình ảnh của mình, thông qua việc chủ thể “ đồng ý” cho chủ thể khác sử dụng hình ảnh của mình. Bộ luật dân sự không quy định rõ như thế nào là đồng ý. Đồng ý ở đây được hiểu là có sự thoả thuận giữa người sử dụng hình ảnh của cá nhân với cá nhân có hình ảnh đó hay chỉ cần việc sử dụng hình ảnh không có sự phản đối của người có hình ảnh thì được hiểu là người đó đương nhiên đồng ý. Theo chúng tôi, việc sử dụng hình ảnh của cá nhân vào bất kỳ mục đích gì mà không xin phép đều bị coi là vi phạm quyền nhân thân về hình ảnh của cá nhân dù việc sử dụng đó có thể mang lại lợi ích hay gây thiệt hại cho người có hình ảnh. Còn việc người có hình ảnh đó có khởi kiện hay không thì đó lại là quyền của chủ thể trong quan hệ về tố tụng dân sự và người đó có quyền lựa chọn.

Thứ ba, Cá nhân có quyền bảo vệ hình ảnh của mình theo quy định của pháp luật. Bất kỳ hành vi xâm phạm quyền nhân thân nào cũng sẽ phải chịu một trách nhiệm pháp lý. Hiện nay, pháp luật dân sự đã có những quy định rõ ràng hơn về các biện pháp bảo vệ và khôi phục quyền nhân thân đối với hình ảnh. Và trong nhiều trường hợp, không nhất thiết phải gây ra thiệt hại mới bị coi là vi phạm quyền nhân thân đối với hình ảnh mà kể cả trường hợp chưa gây ra thiệt hại, trong việc sử dụng hình ảnh của họ mà không được sự đồng ý.

Theo khoản 2, khoản 3 điều 25 Bộ luật dân sự, khi quyền nhân thân của một cá nhân bị xâm hại, người đó có quyền yêu cầu người vi phạm hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm phải chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi và cải chính công khai. Có quyền yêu cầu người vi phạm hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm phải bồi thường thiệt hại.

Việc bảo vệ quyền nhân thân thông qua việc yêu cầu Tòa án bảo vệ được tiến hành theo thủ tục tố tụng dân sự, việc khởi kiện phải có căn cứ và đúng pháp luật. Người bị xâm hại có quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích chính đáng của mình nhưng phải chứng minh được hành vi sử dụng hình ảnh trái pháp luật của người vi phạm. 

1.2. Quyền của cá nhân đối với hình ảnh trong quan hệ đồng giới tính

Có một thực tế rằng, quan hệ đồng tính là chủ đề đang được khai thác triệt để trong Showbiz  Việt Nam. Từ các bộ phim, các buổi biểu diễn trên sân khấu hay hoạt động đời thường, các ngôi saothường đưa yếu tố đồng tính vào để thu hút sự chú ý. Ca sĩ Ngô Kiến Huy giả gái có phần quá lố trong bộ phim “Nàng men, chàng bóng”. Dù không đề cập trực tiếp nhưng những video clip nhạc của ca sĩ Cao Thái Sơn đều khiến người xem liên tưởng đến tình yêu đồng giới. Người mẫu Chung Thục Quyên và Vũ Hoàng Điệp hôn môi trong một buổi tiệc...Người đồng tính không phải là yếu tố mà thế giới giải trí lại có thể đem ra để lợi dụng và câu khách. Điều đó không những khiến những người đồng tính thấy bị xúc phạm mà còn làm hình ảnh của người đồng tính trong mắt dư luận biến dạng, bị nhìn nhận một cách sai trái và lệch lạc.

Nhiều người cho rằng, hình ảnh chính là những hình khối cụ thể của một sự vật nào đó, được con người tiếp nhận thông qua thị giác và hệ thần kinh. Tuy nhiên, đó chỉ là một khái niệm “hình ảnh hẹp”. Với khái niệm “hình ảnh”, ta hiểu cơ bản đó là những biểu hiện ra bên ngoài của một vật thể nào đó, được cảm nhận và tiếp thu thông qua thị giác, xúc giác, thính giác hay cảm giác của con người. Nó không chỉ đơn thuần là những “hình ảnh cụ thể”, mà đó còn có thể là những cảm nhận, nhận xét về tính cách, học thức hay gia đình của một cá nhân cụ thể nào đó trong xã hội. Đối với người LGBT nếu bị xâm phạm, tung tin đồn về xu hướng tính dục hoặc bản dạng giới của mình, đưa hình ảnh lên mạng bình phẩm thường có áp lực lớn hơn so với người dịtính . Khi đó, người LGBT thường rơi vào thế khó xử và khủng hoảng tinh thần,...

2. Quyền bí mật đời tư

2.2. Quyền bí mật đời tư và Quyền riêng tư

Các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 đã quy định các quyền nhân thân của cá nhân, trong đó có quyền bí mật đời tư. Tuy nhiên trên thực tế, quyền này đang bị xâm phạm khá phổ biến trong xã hội (cả người dị tính lẫn người LGBT). 

Quyền bí mật đời tư là quyền nhân thân không gắn với tài sản, là quyền cơ bản trong ệ thóng quyền nhân thân của cá nhân, được quy định tại điều 38 Bộ luật Dân sự. Khi mà công nghệ thông tin ngày nay đã phát triển tới trình độ cao, thì việc bảo vệ quyền bí mật đời tư càng ngày càng trở nên phức tạp và khó khăn hơn. Giá trị vật chất càng được thỏa mãn, người ta càng quan tâm đến các giá trị tinh thần, trong đó quyền bí mật đời tư được quan tâm đặc biệt. Quyền bí mật đời tư bao gồm các đặc điểm sau: 

- quyền được phép giữ kín những thông tin, tư liệu, sự kiện, hoàn cảnh liên quan đến đời tư của mình và không có nghĩa vụ phải công khai; quyền bất khả xâm phạm về thư tín, điện thoại, điện tín và các thông tin điện tử khác; 

- cá nhân và các chủ thể khác không được tự ý tiếp cận và công bố các thông tin về đời tư cũng như không được kiểm soát thư tín, điện thoại, điện tín, các thông tin điện tử khác của cá nhân khi chưa được sự đồng ý của “chủ sở hữu” hoặc sự cho phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Với khái niệm này, rõ ràng bí mật đời tư có khái niệm hẹp hơn so với quyền riêng tư.

Tuy nhiên, những quyền: đối với hình ảnh, bí mật đời tư, danh dự, nhân phẩm... thực ra vẫn chưa đủ để bảo vệ quyền nhân thân của mọi công dân. Quyền tôn trọng đời sống riêng tư (hay gọn hơn là “quyền riêng tư”) được hiểu như quyền được pháp luật bảo hộ chống lại những sự can thiệp hay xâm hại đến:

- Sự riêng tư về thông tin cá nhân: bao gồm việc ban hành các quy tắc quản lý trong việc thu thập và xử lý các dữ liệu cá nhân như thông tin tín dụng, hồ sơ y tế và các hồ sơ của chính quyền lưu trữ về công dân đó. Nó còn được gọi là “bảo vệ dữ liệu”;

- Sự riêng tư về cơ thể: liên quan đến việc bảo vệ thân thể (vật chất) của người dân đối với hình thức xâm hại như xét nghiệm di truyền, thử nghiệm ma túy và thử nghiệm lâm sàng trên cơ thể;

- Sự riêng tư về thông tin liên lạc: bao gồm bảo mật và riêng tư về thư từ, bưu phẩm, điện thoại, thư điện tử và các hình thức truyền thông khác;

- Sự riêng tư về nơi cư trú: liên quan đến việc ban hành các giới hạn đối với sự xâm nhập vào môi trường sống của cá nhân, nơi làm việc hoặc không gian công cộng. Điều này bao gồm tìm kiếm thông tin, theo dõi bằng video và kiểm tra giấy tờ tùy thân.

Có thể thấy, các quy định của Hiến pháp và pháp luật hiện hành chưa thể hiện hết nội hàm quyền riêng tư và còn khá chung chung. Xét về mặt khái niệm, quyền riêng tư không đồng nhất với khái niệm quyền bí mật đời tư. Bất cứ cá nhân nào cũng có sự tự do trong suy nghĩ, hành động – đây là sự “riêng tư” của chính họ. Lẽ dĩ nhiên, nếu là sự tự do trong suy nghĩ thì vấn đề không có gì phức tạp bởi không ai có thể bắt người khác phải suy nghĩ theo ý muốn của mình. Ngược lại, nếu là sự tự do trong hành động thì điều đó còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như: luật pháp, quan hệ với những người xung quanh, sự tác động của phong tục tập quán, thói quen… Chúng ta có thể thấy, pháp luật nói chung, pháp luật Việt Nam nói riêng luôn tôn trọng sự riêng tư của cá nhân (quyền bất khả xâm phạm chỗ ở, quyền lựa chọn công việc cho phù hợp với khả năng và điều kiện của bản thân, quyền tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng…). 

Tôn trọng quyền riêng tư là một yêu cầu tất yếu đặt ra cho tất cả mọi người, buộc mọi người phải tuân thủ. Vấn đề này cần được xem xét kỹ lưỡng hơn với người LGBT vì trong quan điểm chung của xã hội, người LGBT được xem như một hiện tượng khác biệt với số đông nhân loại còn lại, đời sống riêng tư của họ không thể tránh khỏi sự tò mò, soi mói của người khác. Đó là các hành vi vi phạm quyền riêng tư của con người. Ở một mức độ khác, sự xâm phạm quyền riêng tư trên có thể kèm theo các hành vi tiêu cực như đánh đập, xúc phạm nhân phẩm hoặc cản trở đời sống bình thường của người LGBT. Do vậy, cần có những quy định cụ thể, đầy đủ về quyền riêng tư để đảm bảo cho người LGBT được bảo vệ, tôn trọng và được đối xử bình đẳng như những người khác trong xã hội.

2.3. Kiến nghị về vấn đề quyền bí mật đời tư trong quan hệ đồng giới tính

Sau đây là kiến nghị trong bài nghiên cứu trao đổi  của Luật gia Trương Hồng Quang và một số ý kiến bổ sung cá nhân của em: 

Pháp luật hiện hành chỉ đề cập đến một số vấn đề như bí mật đời tư, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật thư tín… Trong bối cảnh hiện nay, việc ghi nhận bằng cách liệt kê như vậy đã không còn phù hợp và chưa theo kịp với thực tiễn của đời sống xã hội. Trên thế giới đã ghi nhận một quyền chung là Quyền riêng tư. Có thể hiểu Quyền riêng tư là quyền của các cá nhân được phép giữ kín những thông tin, tư liệu, dữ liệu gắn liền với cuộc sống riêng tư của mình, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, về nơi ở, về thư tín, điện thoại, điện tín và các thông tin điện tử khác mà không một chủ thể nào có quyền tiếp cận, công khai trừ trường hợp được chính người này đồng ý hoặc được bằng quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Như vậy, Quyền riêng tư có nội hàm rộng hơn Quyền bí mật đời tư trong Hiến pháp và pháp luật Việt Nam.

Dưới góc độ pháp luật quốc tế, các văn bản như: Tuyên ngôn Thế giới về Quyền con người năm 1948 (Điều 12), Công ước Nhân quyền châu Âu năm 1950 (Điều 8),Tuyên bố Châu Mỹ về Quyền và trách nhiệm của con người năm 1965, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (Điều 17), Công ước của Hội đồng châu Âu 1981 về bảo vệ cá nhân đối với việc xử lý tự động của dữ liệu cá nhân (COE … Các văn bản này đã khẳng định sự riêng tư, quyền riêng tư của công dân được bảo hộ, bảo đảm thực thi, không chỉ đề cập đến quyền bí mật đời tư hay riêng tư về nơi ở, thư tín... Như vậy, có thể nhận thấy xu hướng ghi nhận Quyền riêng tư đã xuất hiện từ lâu trên thế giới. Trong hệ thống pháp luật các nước trên thế giới có nhiều mô hình xây dựng pháp luật về Quyền riêng tư và đã khẳng định được đầy đủ nội dung của quyền này.

Hiện nay, các quy định của  pháp luật hiện hành chưa thể hiện hết nội hàm Quyền riêng tư và còn khá chung chung. Vì vậy, cần ghi nhận đầy đủ Quyền riêng tư trong hệ thống pháp luật Việt Nam (Bộ luật Dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành). Tôn trọng Quyền riêng tư là một yêu cầu tất yếu đặt ra cho tất cả mọi người, buộc mọi người phải tuân thủ. Ví dụ như đối với người LGBT cần xem xét kĩ lưỡng hơn vấn đề Quyền riêng tư để có những quy định phù hợp vì trong quan điểm chung của xã hội, người LGBT được xem như một hiện tượng kỳ lạ, khác biệt với số đông nhân loại còn lại, đời sống riêng tư của họ không thể tránh khỏi sự tò mò, soi mói của người khác. Đó là các hành vi vi phạm quyền riêng tư của con người. Ở một mức độ khác, sự xâm phạm Quyền riêng tư trên có thể kèm theo các hành vi tiêu cực như đánh đập, xúc phạm nhân phẩm hoặc cản trở đời sống bình thường của người LGBT. Do vậy, cần có những quy định cụ thể, về tôn trọng quyền riêng để đảm bảo cho người LGBT sống một cuộc sống bình thường, được tôn trọng và được đối xử bình đẳng như những người khác. Với ví dụ này có thể nhận thấy việc quy định Quyền riêng tư là điều cần thiết phải được hoàn thiện trong thời gian tới (Bộ luật Dân sự 2005 và các văn bản có liên quan). Theo đó, Bộ luật Dân sự sửa đổi (đang được Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo) nên quy định một Điều về Quyền riêng tư (thông tin cá nhân, cơ thể, thông tin liên lạc, nơi cư trú) thay thế cho Điều 38 về quyền bí mật đời tư và tiếp tục giữ lại Điều về Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín. Tiếp theo đó, có thể ban hành một Luật về Quyền riêng tư với các nội dung chính:

- Sự riêng tư về thông tin cá nhân: bao gồm việc ban hành các quy tắc quản lý trong việc thu thập và xử lý các dữ liệu cá nhân như thông tin tín dụng, hồ sơ y tế và các hồ sơ của chính quyền lưu trữ về công dân đó. Nó còn được gọi là “bảo vệ dữ liệu”.

- Sự riêng tư về cơ thể: liên quan đến việc bảo vệ thân thể (vật chất) của người dân đối với hình thức xâm hại như xét nghiệm di truyền, thử nghiệm ma túy và thử nghiệm lâm sàng trên cơ thể.

- Sự riêng tư về thông tin liên lạc: bao gồm bảo mật và riêng tư về thư từ, bưu phẩm, điện thoại, thư điện tử và các hình thức truyền thông khác.

- Sự riêng tư về nơi cư trú: liên quan đến việc ban hành các giới hạn đối với sự xâm nhập vào môi trường sống của cá nhân, nơi làm việc hoặc không gian công cộng. Điều này bao gồm tìm kiếm thông tin, theo dõi bằng video và kiểm tra giấy tờ tùy thân.

- Các trường hợp tiếp cận, thu giữ, kiểm soát thông tin về sự riêng tư cá nhân của cơ quan Nhà nước.

Tóm lại, trước tình trạng xâm phạm đời tư đang là vấn đề rất được chú ý, thì việc hoàn thiện chế định về Quyền bí mật đời tư là rất cần thiết. Không những bảo vệ các cá nhân trong xã hội mà còn có ý nghĩa lớn với người đồng tính, một cộng đồng thiểu số dễ bị tổn thương. 

3. Quyền kết hôn

Tháng 5 năm 2014 này, Quốc Hội sẽ thông qua Luật Hôn nhân và Gia đình (sửa đổi). Trong đó, một trong các vấn đề được quan tâm nhất trong dự thảo Luật là việc có thừa nhận hôn nhân đồng giới hay không. Đây là một sự kiện có ý nghĩa quan trọng đối với cộng đồng người đồng giới. Vấn đề này không chỉ người đồng tính mà cả xã hội cũng quan tâm với nhiều tranh cãi khác nhau. 

3.1. Nhu cầu cần đượccông nhận hôn nhân cùng giới của người đồng tính

Trong cuộc điều tra về đồng tính nữ của Viện iSEE  năm 2012 có 92% người được hỏi (mẫu nghiên cứu trên 2.401 người) muốn pháp luật cho phép kết hôn cùng giới. Trong điều tra tương tự năm 2012 do Trung tâm ICS thực hiện với hơn 2000 người đồng tính nam và đồng tính nữ tham gia thì 71% mong muốn được pháp luật cho phép kết hôn cùng giới, 25% muốn được sống chung có đăng ký và 4% muốn được sống chung không đăng ký. Trong nghiên cứu đồng tính nữ nói trên của iSEE, nếu pháp luật cho phép, 77% cho rằng họ muốn kết hôn, 3% không muốn, 16% cho rằng kết hôn hay không không quan trọng và số còn lại không rõ mong muốn của mình. Về nhu cầu sinh con, 70% người đồng tính nữ muốn có con, 13% không muốn và 17% không rõ.- Theo khảo sát vào tháng 6 năm 2012 của vnexpress, với câu hỏi “Là người đồng tính, nếu được Luật cho kết hôn thì bạn sẽ làm gì?”, trong số 1299 người đồng tính có 856 người chiếm 65.9% sẽ công khai cưới người yêu, 296 người chiếm 22.8% sẽ chỉ đăng ký, không tổ chức cưới, 91 người chiếm 7% sẽ không cưới, không đăng ký mà về sống chung với nhau, có 28 người chiếm 2.2% sẽ không dám sống chung vì sợ lộ thân phận, còn lại 28 người chiếm 2.2% có ý kiến khác.

3.2 Tiến trình hợp pháp hóa hôn nhân cùng giới tại Việt Nam

"Được phép làm đám cưới giữa những người cùng giới"  là quy định mới trong xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Hôn nhân gia đình của Nghị định 110/2013/NĐ-CP ban hành ngày 24/9/2013.Nghị định này quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, Hôn nhân gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã. Riêng trong lĩnh vực Hôn nhân gia đình, nghị định đã có thay đổi đáng kể so với Nghị định 87/2001/NĐ-CP quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực Hôn nhân và gia đình trước đây.

Theo Nghị định 110/2013/NĐCP, trong quy định tại điều 48 về những hành vi vi phạm quy định về cấm kết hôn, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng (mức phạt từ 1 triệu đồng đến 3 triệu đồng) thì hành vi "kết hôn giữa những người cùng giới tính" không còn được nêu ra. (Theo Nghị định 87/2001/NĐ-CP đã hết hiệu lực, thì hành vi " kết hôn giữa những người cùng giới tính" được liệt vào những hành vi vi phạm quy định về cấm kết hôn, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng, và bị xử phạt từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng).

Lý giải nguyên nhân của sự thay đổi này, trung tâm iSEE cho rằng :

Thứ nhất,việc xử phạt hành vi "kết hôn giữa những người cùng giới tính" không phù hợp với thực tế. Luật pháp hiện hành của nước ta quy định "Kết hôn là việc xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn." Việc hai người có cùng giới tính muốn đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền chắc chắn sẽ không được chấp nhận. Do đó, hành vi "kết hôn giữa những người cùng giới tính" không xảy ra trong thực tế nên việc xử phạt không cần thiết. 

Thứ hai, việc quy định xử phạt hành vi "kết hôn giữa những người cùng giới tính" dẫn đến cách hiểu sai của một số cơ quan, chính quyền địa phương. Có không ít trường hợp chính quyền địa phương ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với những đám cưới của những người cùng giới tính, ví dụ như đám cưới của cặp đôi đồng tính nam tại Kiên Giang. Quyết định xử phạt sai của chính quyền địa phương xuất phát từ cách hiểu sai về "kết hôn" và "đám cưới", dẫn đến việc lấy quy định xử phạt hành vi kết hôn giữa những người cùng giới tính để xử phạt những đám cưới giữa những người cùng giới tính.

Bỏ xử phạt việc kết hôn cùng giới là một bước tiến nhỏ nhưng rất đáng ghi nhận.

3.3. Cần một lộ trình để công nhận hôn nhân giữa những người đồng giới

Ngày 26 tháng 11 năm 20013, quốc hội Việt Nam lần đầu tiên thảo luận trong phiên toàn thể về hôn nhân và cuộc sống chung giữa hai người cùng giới tính. Về quy định cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính, dự thảo Luật đã bỏ quy định về việc cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính được quy định tại khoản 5 Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình hiện hành và thay bằng quy định mới, theo đó, “Nhà nước không thừa nhận quan hệ hôn nhân giữa những người cùng giới tính.” Theo cuộc điều tra về cảm xúc sau khi biết các nội dung của Dự thảo luật trong cộng đồng người đồng tính, 56% nói rằng họ thất vọng, 33% cảm thấy bình thường và 11% cảm thấy hài lòng.  Một bộ phận đánh giá việc không cho phép các cặp đôi cùng giới đăng ký kết hôn (equal marriage), hoặc đăng ký kết hợp dân sự (civil union) là thất bại của Việt Nam. Họ cho rằng việc thừa nhận đồng tính là tự nhiên, không can thiệp vào sống chung và chấp nhận giải quyết các hậu quả pháp lý vẫn thể hiện sự phân biệt đối xử, coi đồng tính là công dân hạng hai và tạo môi trường để định kiến xã hội tồn tại. Việc không cấp giấy chứng nhận cho hai người cùng giới sống chung đã tước đoạt tính biểu tượng của sự cam kết, chia sẻ và gắn bó giữa hai người yêu nhau. Nhóm còn lại cho rằng, đây là một bước tiến dài, là bước đi hợp lý tiến tới mục tiêu bình đẳng. Nhiều người khẳng định cuộc sống riêng tư của các cặp đôi cùng giới không bị can thiệp, và các nhu cầu pháp lý về tài sản và con cái được đảm bảo là điều quan trọng nhất. Họ còn cho rẳng, việc không (được) đăng ký nhưng các hậu quả pháp lý của việc sống chung vẫn được giải quyết còn tốt hơn việc đăng ký thì mời được thừa nhận. Trên thực tế, những người này cho rằng đại đa số các cặp đôi cùng giới sẽ chưa đăng ký ngay vì các lý do khác nhau. Như vậy, nếu phải đăng ký mới được thừa nhận và bảo vệ chưa chắc đã là một điều hay, ít nhất trong thời gian hiện tại.

Theo kế hoạch, ban soạn thảo sẽ tiếp tục chỉnh sửa và trình vào phiên họp tiếp theo vào tháng 5 năm 2014 để thông qua. Theo em, việc công nhân hôn nhân cùng giới hay không phải cân nhắc rất nhiều ảnh hưởng đến xã hội. Quan điểm của em cho rằng, Quốc Hội sẽ chưa đồng ý vào lúc này. Người đồng tính cần sự thừa nhân của cả pháp luật và xẫ hội. Điều đó cần Thời gian. Em tin tưởng rằng, trong tương lai sẽ có một ngày quyền kết hôn của những người đồng tính được cả xã hội và pháp luật công nhận.

4. Quyền chung sống

4.1.Xã hội ủng hộ Quyền chung sống của người đồng giới

Việc sống chung giữa những người cùng giới tính là một hiện tượng đã có ở ViệtNam, từ đó phát sinh các quan hệ về nhân thân, tài sản hoặc về con (ví dụ nhận con nuôi). Hiện nay pháp luật vẫn thiếu cơ chế để điều chỉnh các hậu quả phát sinh từ các quan hệ này. Thực tiễn xét xử ở Tòa án trong những năm qua đã có một số vụ án có tranh chấp tài sản giữa những người đồng tính có quan hệ sống chung nhưng chưa có cơ sở pháp lý cụ thể để giải quyết tranh chấp. Để giải quyết vấn đề này, có lẽ nên xem xét quy định vấn đề sống chung có đăng ký giữa những người cùng giới tính (cặp đôi dân sự, chưa phải là kết hôn) trong Luật Hôn nhân và Gia đình.

Ngày 26/3/2014 tại Hà Nội, Viện Xã hội học, Viện Chiến lược và Chính sách Y tế, và Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường đã công bố kết quả điều tra quốc gia về “Quan điểm xã hội với hôn nhân cùng giới”. Hội thảo có sự tham dự của hơn 120 người từ các cơ quan nhà nước như Bộ Tư pháp, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, Ngài Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền Canada tại Việt Nam David Divine, các cơ quan nghiên cứu trong và ngoài nước, các tổ chức quốc tế, các cơ quan truyền thông và đại diện cộng đồng người đồng tính cùng Hội phụ huynh người đồng tính.

PGS.TS Đặng Nguyên Anh, Viện trưởng Viện Xã hội học chia sẻ một số kết quả điều tra, trong đó có một số phát biểu đáng lưu ý:

Thứ nhất, ngày càng có nhiều người dân biết về đồng tính (90%) và việc sống chung như vợ chồng giữa hai người cùng giới tính (62%). Một lượng lớn (30%) người dân quen ai đó là người đồng tính (họ hàng, bạn bè, đồng nghiệp, hàng xóm…). Điều này chứng tỏ quan hệ cùng giới là thực tế tồn tại trong xã hội cần được quan tâm.

Thứ hai, về việc công nhận quyền sống chung như vợ chồng giữa những người cùng giới tính, số người ủng hộ và không ủng hộ khá tương đương nhau, và tương ứng là 41,2% và 46,7%. Số còn lại đang lưỡng lự, không quan tâm hoặc không cho ý kiến.

Khi được hỏi về một số quyền cụ thể mà các cặp đôi cùng giới nên được pháp luật bảo vệ, 56% người dân cho rằng cặp đôi cùng giới nên có quyền cùng nhận con nuôi và nuôi con, 51% ủng hộ quyền sở hữu tài sản chung, 47% ủng hộ quyền thừa kế tài sản.

Thứ ba, đa số người dân cho rằng việc hợp pháp hóa hôn nhân cùng giới không ảnh hưởng đến gia đình (72,7%)  hay cá nhân (63,2%) họ. Xét theo vùng miền, người miền Bắc và người miền Trung ủng hộ tích cực hơn (78% và 74%) so với miền Nam (68%). 

Những trường hợp có quen biết người đồng tính xác suất ủng hộ hợp pháp hóa hôn nhân cùng giới lớn gấp đôi so với các trường hợp không quen biết. Điều này cho thấy việc xuất hiện công khai, sống thật của người đồng tính có tác động tốt đến thái độ ủng hộ của xã hội.

4.2.Cần thiết thừa nhận Quyền chung sống

Qua nghiên cứu, đánh giá, các nhà nghiên cứu khoa học cho rằng việc ban hành các quy định mới trong luật pháp ở Việt Nam để hợp pháp hóa quan hệ sống chung của người đồng tính là thực sự rất cần thiết. Điều này sẽ có tác dụng góp phần ổn định xã hội, đáp ứng nhu cầu của người đồng tính được sống chung (có sự bảo hộ của Nhà nước), làm cho người đồng tính sống có trách nhiệm với bản thân và đời sống chung hơn. Bên cạnh đó, Việt Nam là quốc gia vẫn còn nặng nề trong việc gìn giữ quan niệm phổ biến, truyền thống về hôn nhân, gia đình và thực sự khó để thay đổi ngay trong một thời gian ngắn. Hơn nữa, mối quan hệ đồng giới, các nghiên cứu về quan điểm liên quan đến hôn nhân cùng giới vẫn chưa thực sự rõ nét và người đồng tính chưa thực sự là mối quan tâm của nhiều người trong xã hội Việt Nam. Chính vì vậy, đề nghị nên công nhận hình thức sống chung có đăng ký (kết hợp dân sự) đối với cặp đôi đồng tính tại Việt Nam. Đây có thể là một bước đệm để tạo điều kiện xem xét, đánh giá thêm mối quan hệ đồng giới trước khi công nhận hôn nhân cùng giới. Hiện nay, Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hôn nhân và Gia đình đang đi theo hướng bãi bỏ quy định cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính và chỉ đưa ra các quy định giải quyết hậu quả do việc sống chung của cặp đôi đồng tính . Như vậy, dự thảo vẫn chưa hợp pháp hóa quan hệ sống chung của người đồng tính. Quy định như vậy sẽ có khá nhiều bất cập: 

- Đầu tiên, quy định của dự thảo không thực sự đáp ứng yêu cầu đang đặt ra của xã hội về nhu cầu sống chung có đăng ký của người đồng tính. 

- Quan hệ sống chung không có đăng ký của người đồng tính và dị tính khác nhau ở chỗ: cặp đôi nam nữ được quyền kết hôn nhưng họ lại sống chung không có đăng ký, trong khi đó cặp đôi đồng tính không có quyền kết hôn nên đôi khi họ sống chung, từ đó phát sinh nhiều vấn đề về quyền lợi chung, lợi ích của bản thân mỗi người trong cặp đôi. Chính vì vậy, dùng các quy định giải quyết hậu quả của việc nam, nữ sống chung với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn để áp dụng cho cặp đôi đồng tính sống chung là không thực sự phù hợp về mặt bản chất. 

- Nếu không hợp pháp hóa quan hệ sống chung của người đồng tính sẽ dễ gây bất ổn trong xã hội và thực thi pháp luật. Hiện nay nhiều người đồng tính sống chung với nhau nhưng không được công nhận, từ đó phát sinh khá nhiều vấn đề về tài sản, nhân thân. Nhiều cặp đôi cùng tạo ra tài sản, ví dụ cùng mua nhà nhưng không thể đứng tên chung, do đó, khi một người qua đời thì người còn lại cũng không có quyền đối với tài sản cùng tạo dựng đó. 

- Quy định thiếu tính dự báo. Nếu không công nhận quan hệ sống chung thì có thể khoảng 10 năm nữa khi tiếp tục đặt ra vấn đề sửa đổi Luật Hôn nhân và Gia đình, vấn đề kết hôn đồng tính sẽ vẫn được đặt ra nhưng sẽ không có cơ sở đánh giá từ thực tiễn để xem xét, nghiên cứu công nhận hay không. Việc cho phép sống chung có đăng ký sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Nhà nước xem xét, đánh giá quan hệ đồng giới một cách chính xác, có cơ sở hơn so với việc chỉ đưa ra quy định giải quyết hậu quả do việc sống chung không có đăng ký. Với tình hình hiện tại, nhất thiết phải có quy định điều chỉnh mối quan hệ sống chung có đăng ký của người đồng tính. Nếu không tạo cơ hội cho người đồng tính chứng minh sự bền vững trong việc sống chung thì xã hội khó đạt được tính căn bản bền vững, giá trị xã hội của pháp luật cũng khó được đảm bảo và phát huy.

Nếu Luật đồng ý thừa nhận quyền chung sống giữa những người cùng giới tính, đây chính là một bước tiến dài trong con đường bảo vệ quyền lợi cho cộng đồng này. Khi mà quyền kết hôn còn đang có nhiều tranh cãi, thì việc quy định quyền chung sống là cần thiết. 

LỜI KẾT

Càng nghiên cứu sâu về quyền lợi của người đồng tính, càng nhận thấy đây là vấn đề phức tạp. Phức tạp ở chỗ xã hội còn nhìn nhận chưa đúng, nhìn nhận sai lầm về cộng đồng người đồng tính. Phức tạp ở chỗ quy định của pháp luật về các quyền nhân thân vẫn chưa thỏa mãn những vấn đề của xã hội. Tuy nhiên, vẫn có những người vẫn liên tục nghiên cứu, đấu tranh cho quyền lợi của họ. Em xin bày tỏ lòng cám ơn và ngưỡng mộ tới Luật gia Trương Hồng Quang, người đã đóng góp nhiều tâm sức với những bài viết giàu giá trị về người đồng tính nói riêng và người LGBT nói chung. Những nghiên cứu này là nguồn tài liệu vô cùng quan trọng cho bài tập này của em. Đối với em, đây không chỉ đơn thuần là một bài tập nữa, mà nó còn có ý nghĩa nhiều hơn thế. Đó là phải nhìn nhận một vấn đề bằng nhiều phương diện. Đó là cần nghiên cứu và bảo vệ quyền lợi của những nhóm người thiểu số trong xã hội, để nhìn nhận pháp luật nghiêm túc hơn. Mong rằng trong thời gian sắp tới, pháp luật sẽ có những quy định rõ ràng hơn, cụ thể hơn, đáp ứng những mong muốn hợp lý của những cá nhân trong quan hệ đồng giới tính.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2005
Nghị định 110/2013/NĐ-CP ban hành ngày 24/9/2013
Trương Hồng Quang, Nhận thức về người đồng tính và quyền của người đồng tính, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Viện Nhà nước và Pháp luật, số 3/2012.
Trương Hồng Quang, Cơ sở lý luận về quyền của người đồng tính, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Quốc Hội, số 24/2012.
Trương Hồng Quang, Các vấn đề xã hội và pháp lý về cộng đồng người đồng tính, song tính và chuyển giới tại Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Viện Nhà nước và Pháp luật, số 6/2013.
Trương Hồng Quang , Một số kiến nghị bảo vệ quyền của người đồng tính tại Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Viện Nhà nước và Pháp luật, số 11/2013.
Trương Hồng Quang, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Quốc Hội, Quyền kết hôn của người đồng tính, số 4/2014.
Các website:
Duthaoonline.quochoi.vn
Moj.gov.vn
Hongtquang.wordpress.com
Isee.gov.vn

No comments:

Post a comment