21/01/2015
Nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có hội thẩm tham gia - Bài tập nhóm Tố tụng Hình sự
Sau cách mạng tháng Tám, bộ máy tư pháp cũ của chính quyền thực dân, phong kiến đã bị đập tan và bộ máy tư pháp kiểu mới đã được thiết lập. Đặc trưng của bộ máy tư pháp mới này là được tổ chức và hoạt động trên cơ sở các nguyên tắc dân chủ, trong đó một nguyên tắc rất quan trọng là thu hút nhân dân lao động tham gia vào công việc của Tòa án. Trong Sắc lệnh số 13/SL ngày 24-1-1946 chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói rõ việc xét xử của tòa án có các Phụ thẩm nhân dân (nay là Hội thẩm) tham gia. Tiếp đó, khi Hiến pháp năm 1946 được ban hành thì nguyên tắc đại diện của nhân dân tham gia xét xử đã trở thành một nguyên tắc hiến định. Các bản Hiến pháp sau này của nhà nước ta như Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992 đều ghi nhận nguyên tắc này. Chế định Hội thẩm đã thể hiện tư tưởng “lấy dân làm gốc”, bảo đảm nguyên tắc thực hiện quyền lực của nhân dân trong hoạt động xét xử của Tòa án. Hội thẩm nhân dân (HTND) bằng sự tham gia vào Hội đồng xét xử thực hiện quyền lực tư pháp và thông qua đó để nhân dân tham gia một cách có hiệu quả vào công tác quản lý Nhà nước nói chung, hoạt động của Tòa án nói riêng. Để hiểu hơn về vấn đề này nhóm chúng em xin đi sâu tìm hiểu đề tài số 6: “Nội dung của nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có hội thẩm tham gia và giải pháp nâng cao hiệu quả nguyên tắc này”.

B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I. Một số vấn đề lí luận:

1. Cơ sở lý luận:

Nhà nước ta là “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” đã được Hiến pháp, pháp luật và văn kiện của Đảng ghi nhận nên việc tham gia của quần chúng nhân dân vào công việc quản lý nhà nước cũng như công tác xét xử của Toà án là nhu cầu tất yếu khách quan. Điều 3 Hiến pháp 1992 của nước ta khẳng định: “Nhà nước đảm bảo và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân”. Yêu cầu đặt ra là, việc xét xử của Toà án phải đảm bảo công khai, dân chủ. (Trừ trường hợp để bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn bí mật nhà nước, giữ gìn đạo đức xã hội, toà án xét xử kín. Tuy nhiên, trong trường hợp này, bản án, quyết định của Toà án vẫn phải được công khai).

Xét ở khía cạnh xã hội và khía cạnh lập pháp trong Nhà nước pháp quyền, các quy phạm pháp luật chỉ được xây dựng trên cơ sở các vấn đề đã có trên thực tiễn hay bằng cách dự liệu nó sẽ xảy ra trên thực tiễn. Hơn nữa, ngoài các quy phạm pháp luật thực định pháp luật còn chứa đựng trong đó một giá trị lớn hơn đó là tinh thần pháp luật. Tinh thần pháp luật có thể hiểu một cách đơn giản là cái đích mà pháp luật mong muốn hướng đến. Từ các khía cạnh trên, có thể thấy rằng việc quy định nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia là hoàn toàn có cơ sở và không trái với các nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền.

Bản chất của nguyên tắc này thể hiện ở chỗ thu hút sự tham gia của nhân dân vào hoạt động xét xử và tạo điều kiện cho hoạt động xét xử được tiến hành một cách khách quan, công bằng, chính xác. Sự tham gia của Hội thẩm vào hoạt động xét xử là một trong những biểu hiện, hình thức quan trọng của việc thực hiện nguyên tắc đó, là một trong những biểu hiện của dân chủ trong hoạt động tư pháp.

2. Cơ sở pháp lí:

Trước hết, khái niệm Hội thẩm được quy định tại khoản 2 Điều 1 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân năm 2002: “Hội thẩm là người được bầu hoặc cử theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án”. Nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia là nguyên tắc hiến định, được quy định tại Điều 129 Hiến pháp 1992: “Việc xét xử của tòa án nhân dân có HTND, của tòa án quân sự có Hội thẩm quân nhân tham gia theo quy định của pháp luật. Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán”.

Nguyên tắc này được cụ thể hoá trong Điều 15 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003: “Việc xét xử của Tòa án nhân dân có HTND, của Tòa án quân sự có Hội thẩm quân nhân tham gia theo quy định của Bộ luật này. Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán”.

So với những quy định tương ứng trong BLTTHS 1988, Điều 15 BLTTHS năm 2004 có sự sửa đổi bổ sung nhất định theo hướng đảm bảo sự đầy đủ và chính xác. Đó là BLTTHS hiện hành dùng cụm từ “Hội thẩm” với nghĩa bao hàm HTND và Hội thẩm quân nhân thay cho cụm từ HTND; cụ thể hóa khái niệm Tòa án thành TAND và Tòa án quân sự; thay từ “ở” thành từ “của” cho chính xác hơn.

3. Cơ sở thực tiễn:

Trong tố tụng hình sự, thì dù ít hay nhiều, quyền con người cũng dễ bị xâm phạm nên việc tham gia của các tổ chức, cá nhân vào quá trình đó là rất cần thiết. Việc tham gia xét xử của Hội thẩm là một trong những biểu hiện rõ nét nhất, cụ thể nhất của chế độ dân chủ, thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Đồng thời, đây cũng là một hình thức thu hút nhân dân tham gia một cách bình đẳng rộng rãi vào công việc quản lý nhà nước và xã hội. Hội thẩm là những người am hiểu thực tế cuộc sống, nắm được tâm tư, nguyện vọng của quần chúng, từ đó, họ dễ dàng trong việc tìm ra nguyên nhân, điều kiện phạm tội, tâm lý của người phạm tội để cùng Thẩm phán có được phán xét công bằng, chính xác, nghiêm minh. Bên cạnh đó, bằng việc tham gia xét xử, Hội thẩm có điều kiện thuận lợi nhất giám sát hoạt động của Toà án. Như vậy, khi tham gia xét xử, Hội thẩm vừa thực hiện quyền lực nhà nước, đồng thời cũng thể hiện được ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Điều này góp phần đáng kể trong việc bảo đảm cho hoạt động xét xử thực sự mang tính dân chủ. Do vậy, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên được bảo đảm một cách công bằng, tránh cho quyền con người của họ bị xâm hại từ phía các cơ quan quyền lực hoặc bất cứ cá nhân, tổ chức nào.

Việc tham gia xét xử của Hội thẩm cũng là yếu tố góp phần khắc phục bệnh nghề nghiệp (nếu có) của Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng khác. Nhiều Hội thẩm đã thể hiện rõ tinh thần trách nhiệm, thực hiện tốt nghĩa vụ, kiên định với quan điểm của mình, kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa. Trong quá trình tham gia công tác xét xử, Hội thẩm còn góp phần quan trọng trong việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật, đóng góp vào việc xây dựng và hoàn thiện đường lối xét xử, giúp cho việc xét xử đúng pháp luật và có sức thuyết phục hơn.

4. Nội dung của nguyên tắc:

Nội dung:

Nội dung của nguyên tắc này được ghi nhận như sau:

Một là, việc xét xử của Tòa án nhân dân có HTND, của Tòa án quân sự có Hội thẩm quân nhân tham gia theo quy định của pháp luật. Hội thẩm là người được bầu hoặc cử tham gia vào hoạt động xét xử. Việc tham gia của Hội thẩm giúp cho Tòa án xét xử không chỉ đúng pháp luật mà còn phù hợp với nguyện vọng của nhân dân. Hội thẩm có đời sống chung trong cộng đồng, trong tập thể lao động, nên họ hiểu sâu hơn tâm tư nguyện vọng, nắm bắt được dư luận quần chúng nhân dân. Khi được cử hoặc bầu làm HTND, Hội thẩm không tách khỏi hoạt động lao động sản xuất của cơ quan, đơn vị mình. Với vốn hiểu biết thực tế, kinh nghiệm trong cuộc sống, sự am hiểu về phong tục tập quán địa phương, Hội thẩm sẽ bổ sung cho Thẩm phán những kiến thức xã hội cần thiết trong quá trình xét xử để có được một phán quyết đúng pháp luật, được xã hội đồng tình ủng hộ.

Muốn đưa ra phán quyết đúng, giải quyết các tranh chấp đúng pháp luật, hợp với lẽ công bằng, xử phạt đúng người, đúng tội, hiển nhiên đòi hỏi những người làm công tác xét xử phải có đạo đức trong sáng, có bản lĩnh, có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ vững vàng. Ngoài ra, để Hội đồng xét xủ có phán quyết đúng đắn, đòi hỏi họ cũng phải có kiến thức và vốn hiểu biết cuộc sống, có kinh nghiệm hoạt động xã hội. Vì thế pháp luật quy định khi xét xử có HTND tham gia là sự bổ sung cần thiết cho những lĩnh vực đó. Hơn nữa, Hội thẩm là đại diện của các giới, các ngành, các tổ chức xã hội, nghề nghiệp, hội thẩm có thể phản ánh một cách khách quan cách nhìn nhận về sự kiện, vụ việc từ suy nghĩ, tâm tư của quần chúng, chứ không phải từ góc độ của một luật gia thuần túy.

Ở một số nước như Mĩ, Canada trong các vụ án có thể có sự tham gia của Bồi thẩm đoàn (như HTND ở Việt Nam). Tuy nhiên, khác với nước ta, ở Canada, theo quy định trong “Hiến Chương nhân quyền” người dân có quyền chọn xử bench trial (chỉ có một vị quan toà, công tố và luật sư) hay jury trial (với bồi thẩm đoàn). Trong các vụ hình sự, nếu bị cáo bị buộc tội phải ở tù 5 năm trở lên có quyền chọn hệ thống bồi thẩm đoàn. Ở Mỹ tất cả các vụ án hình sự mà bị cáo bị quy tội từ 6 tháng tù trở lên có thể yêu cầu xét xử có bồi thẩm đoàn. Như vậy, việc xét xử có hay không có Bồi thẩm đoàn là do bị cáo lựa chọn, pháp luật những nước này không bắt buộc Bồi thẩm đoàn phải hiện diện trong mọi vụ án.

Hai là, khi xét xử Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán: Khi xét xử vụ án hình sự, mọi vấn đề phải được Thẩm phán và Hội thẩm thảo luận và thông qua tại phòng nghị án. Pháp luật không chỉ quy định khi xét xử Hội đồng xét xử phải có HTND tham gia mà còn quy định khi xét xử Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán, tức là HTND cùng Thẩm phán quyết định giải quyết mọi vấn đề của vụ án không kể về nội dung hay thủ tục tố tụng. Mặc dù Hội thẩm không phải là cán bộ trong biên chế Tòa án mà là người của cơ quan, tổ chức được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bầu hoặc cử làm đại diện cho nhân dân tham gia vào hoạt động xét xử của Tòa án, nhưng khi tham gia xét xử Hội thẩm lại ngang quyền với Thẩm phán, từ việc đọc hồ sơ vụ án, nghiên cứu chứng cứ, cho đến việc ra quyết định giải quyết vụ án. Đây là điều quan trọng để HTND thực sự pháp huy được vai trò là đại diện cho quần chúng nhân dân của mình. Quy định này thể hiện tính dân chủ trong pháp luật tố tụng hình sự của nước ta.

Ba là, hoạt động của Hội thẩm không phải là một nghề chuyên nghiệp. Hội thẩm là người được bầu hoặc cử theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc Thẩm quyền của Tòa án.

Khác với Việt Nam, tại Trung Quốc, Hội thẩm là được coi là một nghề và bất cứ ai muốn trở thành Hội thẩm thì phải trải qua một khoá đào tạo, vượt qua kì thi vào nghề và được cấp chứng chỉ hành nghề. Hội thẩm viên tại Trung Quốc sẽ do Ủy ban Thường trực Hội đồng nhân dân cấp quận, huyện bổ nhiệm với nhiệm kỳ năm năm. Những người đủ tư cách làm hội thẩm viên có thể nộp đơn xin hoặc được các tổ chức chính quyền cấp quận huyện đứng ra giới thiệu

b. Ý nghĩa của nguyên tắc:

Thứ nhất, thực hiện tốt nguyên tắc này góp phần vào việc củng cố tốt mối quan hệ giữa Tòa án với nhân dân, nâng cao tính chính xác, bảo đảm công minh trong công tác xét xử và góp phần vào việc phòng ngừa và chống tội phạm.

Thứ hai, nguyên tắc này nhằm phát huy tính dân chủ và trí tuệ tập thể trong công tác xét xử để hội đồng xét xử đưa ra phán quyết đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Thứ ba, nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động xét xử, bởi việc tham gia của Hội thẩm giúp cho Tòa án xét xử không chỉ đúng pháp luật mà còn phù hợp với nguyện vọng của nhân dân.

II. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có hội thẩm tham gia:

Thực trạng:

Hơn 60 năm tồn tại liên tục của chế định HTND đã chứng tỏ sức sống và sự cần thiết của đội ngũ Hội thẩm – những người xét xử không chuyên – đại diện cho nhân dân cùng các thẩm phán chuyên nghiệp tham gia xét xử các vụ án hình sự, xứng đáng là những người đứng trên tuyến đầu thực hiện nhiệm vụ bảo vệ công lí ở từng thời kì, góp phần tích cực vào sự nghiệp bảo vệ pháp chế XHCN, lợi ích của Nhà nước, quyền và nghĩa vụ hợp pháp của công dân, đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật, giáo dục công dân ý thức tuân thủ pháp luật. Trong xét xử, nhiều Hội thẩm đã thực hiện đầy đủ và nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật, thể hiện bản lĩnh, giữ vững nguyên tắc độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, ngang quyền với Thẩm phán, thể hiện tinh thần trách nhiệm cao với công việc được nhân dân giao phó. Theo thống kê của TANDTC, số lượng vụ án trên cả nước năm 2007: 105.308 vụ, năm 2008: 100.539 vụ, năm 2009: 214.174 vụ, năm 2010 là 258.800 vụ�. Với số lượng vụ án lớn như vậy, đội ngũ Hội thẩm đã có rất nhiều cố gắng để cùng với thẩm phán xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng phương pháp, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, tạo được niềm tin của nhân dân vào pháp luật. Sự hiện diện của Hội thẩm trong việc xét xử các vụ án đã khẳng định rằng nhân dân có thể và cần phải có tiếng nói đích thực của mình trong Hội đồng xét xử. Vì vậy, việc duy trì chế định Hội thẩm trong xét xử rất cần thiết.

Đội ngũ Hội thẩm đã và đang tham gia tích cực vào việc xét xử của các Tòa án. Thực tế cho thấy những người được bầu làm Hội thẩm là những người có uy tín trong xã hội, được quần chúng tín nhiệm và có ảnh hưởng nhất định trong xã hội, họ thường là những người có lối sống gương mẫu, có phẩm chất tốt, là tấm gương trong lao động, công tác, nhân dân tin cậy vào sự công minh và vô tư của họ. Qua sự tham gia xét xử của Hội thẩm, uy tín của cơ quan xét xử ngày càng được nâng cao và được nhân dân tin cậy ủng hộ, đồng thời Hội thẩm còn đóng vai trò to lớn trong công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật. Bằng vai trò cá nhân, Hội thẩm đóng góp nhất định trong việc giữ gìn “tình làng nghĩa xóm” ổn định xã hội, phòng chống tội phạm.

Tuy nhiên, qua thực tế hoạt động của HT và áp dụng các biện pháp của pháp luật về địa vị pháp lí của HT trong tố tụng hình sự, có thể thấy còn nhiều vấn đề bất cập cần phải được khắc phục và hoàn thiện nhằm làm cho nguyên tắc HT thực sự phát huy tác dụng trong việc xét xử các vụ án hình sự:

Thứ nhất, cơ chế tuyển chọn Hội thẩm còn nhiều bất cập dẫn đến tình trạng xét xử thiếu độc lập, khách quan. Theo quy định tại pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân 2002, Hội thẩm được tuyển chọn dưới hình thức bầu hoặc cử. Về yêu cầu đối với Hội thẩm, Điều 37 khoản 2 Luật tổ chức TAND năm 2002 quy định: “Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước CHXNCN VIệt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực, có kiến thức pháp lý, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, có sức khỏe để đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ được giao, thì có thể được bầu hoặc được cử làm Hội thẩm”. Theo quy định trên thì, để có thể trở thành Hội thẩm chỉ cần có kiến thức pháp lý (và các tiêu chuẩn khác như nêu trên); còn đối với Thẩm phán thì yêu cầu phải có trình độ cử nhân luật, phải được đào tạo về nghiệp vụ xét xử và phải có năng lực làm công tác xét xử. Yêu cầu, đòi hỏi này cũng là lẽ đương nhiên. Cũng chính từ quy định như vậy, nên hiện nay, trong số 11.409 Hội thẩm, có nhiều người đã tốt nghiệp đại học, nhưng cũng có người mới học hết phổ thông trung học và cũng có người (ở vùng sâu vùng xa) thì mới tốt nghiệp trung học cơ sở, thậm chí có người lần đầu tiên mới tiếp xúc với những khái niệm, thuật ngữ pháp lý khi họ được bầu làm HTND. Vì thực trạng trình độ của đội ngũ HTND như vậy cho nên có những trường hợp, HTND tham gia xét xử một cách thụ động, chưa nắm vững pháp luật, không đánh giá vụ án một cách khách quan, toàn diện.

Thứ hai, do số lượng ít, trình độ Hội thẩm còn yếu kém, đạo đức nghề nghiệp giảm sút khiến công tác xét xử đạt hiệu quả thấp. Tính đến nay, toàn ngành Tòa án Hà Nội có 740 Hội thẩm, trong đó HTND cấp thành phố có 84 người, cấp huyện có 656 người. Thành phố Hồ Chí Minh có 947 Hội thẩm, trong đó có 100 vị cấp thành phố. Bình quân mỗi Tòa án trên cả nước có từ 15 đến 20 Hội thẩm�. Đội ngũ Hội thẩm đang vừa thừa vừa thiếu. Vì phải xét xử quá nhiều án nên có những nơi, những lúc tòa án thiếu Hội thẩm. Bên cạnh đó, có nhiều Hội thẩm trong cả nhiệm kỳ 5 năm chỉ tham gia xét xử một vài lần, thậm chí có trường hợp, họ không tham gia xét xử một lần nào. Đến nay, công tác quản lý cũng như sơ kết, tổng kết hoạt động của Hội thẩm chưa được quan tâm thực hiện đúng mức, nên những hạn chế chưa kịp thời được khắc phục.

Thứ ba, hội thẩm được bầu hầu hết là những cán bộ đương chức đang công tác tại các cơ quan nhà nước, ở các tổ chức chính trị xã hội như Liên đoàn lao động Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội chữ thập đỏ…, một số là giáo viên, cán bộ đoàn… Vì vậy họ cũng ít tham gia xét xử do bận công tác hay có ít kiến thức chuyên môn nên tự ti, mặc cảm từ chối lời mời của tòa dẫn đến việc xét xử không hiệu quả. Điển hình là vẫn còn nhiều hiện tượng sai lầm nghiêm trọng do lỗi của phía Hội đồng xét xử như trường hợp kết án oan người không có tội như vụ án xét xử ba thanh niên trú tại Yên nghĩa, Hoài Đức, Hà Nội là Nguyễn Đình Tình, Nguyễn Đình Kiên và Nguyễn Đình Lợi.

Thứ năm, chế độ đãi ngộ đối với HTND còn kém, mức phụ cấp phiên tòa còn thấp. Theo thông tư 614/TTLB ngày 27/1/1995 của Bộ tư pháp- Bộ tài chính- TAND tối cao thì HTND cấp tỉnh được hưởng phụ cấp xét xử là 25 nghìn/ ngày, HTND cấp huyện là 20 nghìn/ngày. Trong điều kiện hiện nay, mức lương tối thiểu đã tăng lên thì mức phụ cấp này còn quá thấp.

Giải pháp hoàn thiện:

Hội thẩm là một chế định tồn tại với truyền thống hơn 60 năm trong nền tư pháp dân chủ ở Việt Nam. Trong cải cách tư pháp, chế định Hội thẩm tiếp tục được đặt ra. Có nhiều ý kiến về việc bỏ chế độ Hội thẩm hoặc thay chế độ Hội thẩm bằng hình thức khác mà vẫn bảo đảm cho tính nhân dân trong xét xử. Tuy nhiên, với đặc điểm của Việt Nam, việc tiếp tục duy trì chế độ Hội thẩm tham gia xét xử là cần thiết nhưng cần có những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội thẩm. Nhóm em xin đề xuất một số giải pháp như sau:

Một là, về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của hội thẩm: Xuất phát từ ý nghĩa chế định hội thẩm là sự tham gia giám sát của nhân dân đối với hoạt động xét xử của Thẩm phán, mặc dù luật quy định Hội thẩm ngang quyền với thẩm phán nhưng không nhất thiết trình độ chuyên môn nghiệp vụ phải tương đương Thẩm phán. Hội thẩm phải có kiến thức pháp luật nhất định về tội danh, về quyết định hình phạt… Những kiến thức này được bổ sung cho Hội thẩm qua công tác tập huấn. Kết hợp giữa tập huấn luật nội dung và kỹ năng xét xử. Hội thẩm cần được trang bị các bộ luật, các nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán và các thông tư có liên quan đến việc giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật. Hội thẩm phải được cung cấp thông tin về hoạt động xét xử và các kiến thức pháp luật. Với một trình độ chuyên môn về những lĩnh vực nhất định, Hội thẩm cũng có thể tự bổ sung kiến thức pháp luật cho mình. Việc tập huấn phải được tổ chức thường xuyên và có chất lượng, tránh việc tập huấn không có nội dung, lan man.

Hai là, về đạo đức Hội thẩm: Đạo đức của Hội thẩm phải được hình thành trước khi họ là Hội thẩm. Điều đó có nghĩa là những người được xem xét để bổ nhiệm Hội thẩm là những cán bộ có năng lực, tận tụy với công việc và có uy tín trước quần chúng nhân dân. Ngoài ra, cần tăng cường giáo dục, tư tưởng chính trị cho Hội thẩm, biểu dương nhưng gương Hội thẩm mẫu mực, dũng cảm có tinh thần và trách nhiệm với nghề nghiệp. Ngành Tòa án cũng cần ban hành quy chế về đạo đức Hội thẩm quy định về những ứng mà Hội thẩm phải làm.

Ba là, cần phải xem xét lại việc bổ nhiệm Hội thẩm. Vì Hội thẩm là những người đại diện cho nhân dân tham gia giám sát hoạt động của Tòa án và xét xử người thực hiện hành vi phạm tội dưới góc độ của đông đảo nhân dân chứ không phải dưới góc độ người Thẩm phán chuyên nghiệp, bởi vậy Hội thẩm phải do nhân dân bầu chọn một cách công khai, dân chủ trên cơ sở lựa chọn những người có đủ tiêu chuẩn, năng lực tham gia xét xử. Ngành tòa án cũng cần có sự quản lý chặt chẽ hơn đối với đội ngũ Hội thẩm. Luật quy định “khi xét xử Hội thẩm ngang quyền với thẩm phán” nên chăng cũng cần quy định trách nhiệm của Hội thẩm giống như Thẩm phán khi xét xử oan sai hoặc có tiêu cực vì hiện tại hầu như Hội thẩm không có bất cứ trách nhiệm nào trước pháp luật về hoạt động xét xử của họ ngoài hình thức bãi miễn hoặc không được đề nghị khen thưởng.

Bốn là, nâng cao nhận thức của công dân về nguyên tắc xét xử có hội thẩm. Đây là một nguyên tắc quan trọng trong BLTTHS. Trên thực tế, vẫn còn có nhiều người không hiểu một cách thấu đáo nguyên tắc này hoặc không biết tới nguyên tắc này. Vì vậy, việc giải thích, bình luận về nguyên tắc trên các phương tiện thông tin đại chúng, tập huấn nghiệp vụ trong ngành là cần thiết. Hội thẩm phải là người thấm nhuần tư tưởng của nguyên tắc, xem đó là lời thề nghề nghiệp, đó là quyền và nghĩ vụ cao cả của Hội thẩm.

Thứ năm, cần bổ sung vào BLTTHS một số quy định cụ thể hơn về quyền và nghĩa vụ của Hội thẩm. Trong BLTTHS và các văn bản liên quan quyền và nghĩa vụ của những người tiến hành tố tụng (như Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa) hoặc những người tham gia tố tụng (như bị can, bị cáo, người bào chữa, người giám định…) được quy định cụ thể, trong khi quyền và nghĩa vụ của Hội thẩm chưa được quy định đầy đủ và chưa cụ thể. Vì vậy cần có một quy định cụ thể (một hoặc một số điều) về quyền và trách nhiệm của HTND khi tham gia xét xử vụ án hình sự (như quyền nghiên cứu hồ sơ, quyền tham gia xét hỏi đến mức nào, quyền điều hành phiên tòa ra sao, khi nghị án thì quyền hạn đến đâu, khi bản án có sai sót do lỗi của Hội thẩm thì trách nhiệm thế nào…

C. KẾT LUẬN

Trong hệ thống pháp luật tố tụng hiện nay ở nước ta, chế định HTND là một trong những chế định bắt buộc, có tính quyết định đến các bản án sơ thẩm trong hoạt động tư pháp. Bởi vì, hầu hết bản án sơ thẩm đều yêu cầu phải có sự tham gia của số lượng tối thiểu 2/3 thành viên của Hội đồng xét xử là các HTND. Cùng với số lượng đó là tính quyết định của HTND trong Hội đồng xét xử đối với bản án sơ thẩm. Với vai trò quan trọng như vậy, việc nâng cao chất lượng, đảm bảo hiệu quả hoạt động của đội ngũ HTND là một yêu cầu cần thiết. Đây là một nhiệm vụ quan trọng của cải cách tư pháp ở nước ta nhằm hướng tới một mục tiêu chung là củng cố hệ thống Toà án ngày càng vững mạnh, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân.

Trên đây là những ý kiến của nhóm em về bài tập nhóm tháng 1. Trong bài làm còn nhiều thiếu sót, chúng em rất mong được các thầy cô góp ý, sửa chữa.


Danh mục tài liệu tham khảo

Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb. CAND, Hà Nội, 2007, 2008.

Khoa luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, 2001.

Bình luận khoa học BLTTHS, PGS.TS. Võ Khánh Vinh (chủ biên), Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2004.

Bộ luật tố tụng hình sự 2003.

Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dân 2002.

Mấy ý kiến về đổi mới nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội thẩm / ThS. Hoàng Hùng Hải // Tạp chí Toà án. Toà án nhân dân tối cao, Số 6/2005

Sổ tay Hội thẩm / Nguyễn Tất Viễn chủ biên, Hà Nội, 1998 .

Nguyên tắc Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự : Khoá luận tốt nghiệp / Hoàng Anh Hùng, Trường Đại học Luật Hà Nội, 1997 .

No comments:

Post a comment