22/11/2014
Căn cứ và phương thức chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật
Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là một vấn đề quan trọng trong đời sống vợ chồng. Lần đầu tiên việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân được quy định tại Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 và tiếp tục cụ thể hóa phát triển trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Để có cái nhìn khái quán về chế định này với bài tập học kỳ em xin lựa chọn đề tài: “Phân tích căn cứ và phương thức chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề này”.

NỘI DUNG

1. Khái quát về chế độ tài sản của vợ chồng.


Tài sản là gì ? theo từ điển học thì tài sản được hiểu là những của cải vật chất được sử dụng vào mục đích sản xuất hoặc tiêu dùng, theo Điều 163 Bộ luật dân sự năm 2005 thì tài sản bao gồm: “vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”. 


Chế độ tài sản của vợ  và chồng là loại quan hệ đặc biệt rằng buộc hai người (có quan hệ hôn nhân hợp pháp)  liên quan đến tài sản, nói chung là đến các lợi ích vật chất có giá trị. Trong khung cảnh của Luật thực định của nước ta, sự tồn tại của quan hệ tài sản giữa vợ và chồng lệ thuộc vào sự tồn tại của quan hệ hôn nhân. Quan hệ tài sản vợ chồng không tồn tại giữa hai người chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn. Quan hệ này cũng bị thủ tiêu trong trường hợp hai người có đăng ký kết hôn nhưng sau đó hôn nhân bị hủy bỏ theo một bản án hoặc quyết định của Tòa án, đồng thời sảy ra với trường hợp vợ chồng ly hôn hoặc một người chết.

Vậy có thể hiểu một cách khái quát rằng: “Chế độ tài sản của vợ chồng là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh về (sở hữu) tài sản của vợ chồng, bao gồm các quy định về căn cứ xác lập tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng, các trương hợp và nguyên tắc chia tài sản giữa vợ và chồng theo Luật định” (Ts Nguyễn Văn Cừ, Chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2008). Theo đó phần tài sản riêng của vợ chồng được quy định tại Điều 32 và 33 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.

Tài sản chung của vợ chồng: Theo khoản 1 Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 217 Bộ luật dân sự năm 2005 thì: “Sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu chung không được xác định đối với tài sản chung”,  và sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng thuộc hình thức sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia khi vợ chồng có lý do chính đáng; khi quan hệ hôn nhân chấm dứt.  Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định cụ thể các căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng dựa vào: “ Thời kỳ hôn nhân”  và nguồn gốc các loại tài sản; theo đó, tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ chồng tạo ra , thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung cùng các tà sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Đối với tài sản là quyền sử dụng đất, pháp luật quy định quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được sau khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung của vợ chồng khi có thỏa thuận. Như vậy, những tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân thuộc khối tài sản chung của vợ chồng

2. Căn cứ và phương thức chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

Khoản 1 Điều 29 Luật hôn nhân và gia đình quy định về việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân như sau: “ Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung ; việc chia tài sản chung được lập thành văn bản; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết”. Với quy định trên ta có thể xác định được căn cứ và phương pháp chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. 

2.1 Căn cứ để chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 29 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, việc chia tài sản chng của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân chỉ được đặt ra khi có yêu cầu của một bên vợ hoặc chồng hoặc của cả hai người. Nếu một người thấy rằng việc chia tài sản là cần thiết thì có thể thỏa thuận với vợ chồng mình để chia tài sản, nếu không thỏa thuận được thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết. Như vậy, Luật hôn nhân và gia đình hiện hành chỉ cho phép vợ hoặc chồng mới có quyền yêu cầu Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân mà không cho bất kỳ một chủ thể nào khác có quyền này, kể cả người có quyền và lợi ích liên quan đến việc chia tài sản chung của vợ, chồng.  Để hiểu kỹ hơn ta đi vào phân tích cụ thể từng căn cứ chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

Trường hợp, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng

Theo BLDS năm 2005 nghĩa vụ dân sự là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc khác hoặc không thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác. Việc thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng là việc thực hiện nghĩa vụ mà chỉ một người(vợ hoặc chồng) phải thực hiện còn người kia không phải liên đới thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng này. Nghĩa vụ dân sự riêng bao gồm các trường hợp thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên thực hiện trước thời kỳ hôn nhân hoặc không nhằ đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình. Nghĩa vụ dân sự này có thể là người vợ hoặc người chồng đã vay nợ chủ thể thứ ba để sử dụng vào nhu cầu riêng hay trong trường hợp người vợ hoặc người chồng đã vi phạm pháp luật dẫn tới hậu quả buộc phải thực hiện một nghĩa vụ dân sự nào đó như bồi thường thiệt hại. 

Khí phát sinh các nghĩa vụ dân sự riêng, về nguyên tắc người vợ hoặc người chồng có nghĩa vụ dân sự riêng phải dùng tài sản riêng của mình, nếu tài sản riêng của người đó không có hoặc không đủ mà vợ chồng không thể thỏa thuận dùng tài sản chung để thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng cho một bên thì vợ chồng có quyền yêu cầu Tòa án chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân để người vợ, chồng lấy phần tài sản đã chia trong khối tài sản chung của vợ chồng thanh toán nghĩa vụ dân sự cho người thứ ba. Đồng thời tạo điều kiện để vợ, chồng có thể thực hiện tốt nhất trách nhiệm của mình khi tham gia quan hệ tài sản với người thứ ba. Nó còn là cơ sở để phân định rõ quyền và nghĩa vụ của các bên vợ, chồng trong việc quản lý, sử dụng và định đoạt tài sản trong gia đình.

Trường hợp, đầu tư kinh doanh riêng

Đầu tư kinh doanh riêng là khái niệm tương đối rộng và tương đối khó xác định. Đó có thể là việc thành lập một doanh nghiệp tư nhân, tham gia thành lập một công ty hay đơn giản chỉ là buôn bán một mặt hàng nào đó. Dự án đầu tư kinh doanh có thể đang được thực hiện , nhưng cũng có thể chỉ mới được chuẩn bị thực hiện thậm chí đang trong giai đoạn thai nghén hình thành. Việc đầu tư kinh doanh được coi là một lý do chính đáng để vợ chồng có thể yêu cầu Tòa án chia tài sản chung của vọ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Bởi để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh thì người vợ hoặc chồng chắc chán phải có một khối tài sản thuộc sở hữu của mình để đảm bảo thực hiện các giao dịch. Nếu tài sản mang đầu tư là tài sản thuộc sở hữu chung sẽ gây nhiều phiền phức cho việc thực hiện các giao dịch, vì việc định đoạt tài sản đó cần có sự thỏa thuận của các đồng sở hữu mà nếu như người kia không quan tâm cũng không muốn đầu tư kinh doanh thì việc thỏa thuận sẽ rất khó thực hiện được. Xuất phát từ yêu cầu của thực tế nền kinh tế nước ta trong giai đoạn hiện nay, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định “Đầu tư kinh doanh riêng ” là một lý do chính đáng để vợ chồng có thể chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Hơn nữa, hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường hiện nay có nhiều biến động mà người đầu tư không thể dự liệu trước, việc đầu tư kinh doanh có thể sẽ rất mạo hiểm nên người đầu tư cần cần tách riêng phần tài sản đầu tư để phòng trường hợp việc kinh doanh bị thua lỗ thì cũng không ảnh hưởng quá nhiều đến gia đình.

Nói chung là việc chia tài sản này nhằm để một người có tài sản riêng để thực hiện các giao dịch bảo đảm vay vốn kinh doanh, để giúp việc thực hiện các giao dịch bớt phức tạp và đảm bảo cuộc sống gia đình không bị ảnh hưởng. Việc chia tài sản chung cũng có thể được yêu cầu ngay cả trong trường hợp người có nhu cầu đầu tư kinh doanh không có ý định đưa tài sản được chia vào khai thác trong khuẩn khổ hoạt động đầu tư, mà chỉ muốn chứng tỏ với mọi người về tiềm lực vật chất trong tay mình, nhằm củng cố lòng tin cậy của các đối tác có quan hệ làm ăn với mình.

Trường hợp, có lý do chính đáng khác

Trong đời sống xã hội, có rất nhiều lý do mà pháp luật không thể dự liệu hết được, vì vậy để đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển của nền kinh tế kèm theo đó là sự phát triển của các mối quan hệ xã hội mà pháp luật không kịp dự liệu để điều chỉnh Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định trong trường hợp vợ chồng có “lý do chính đáng khác” thì có thể thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Đây là một quy định mở chứ không mang tính chất liệt kê cụ thể. Điều này tạo ra được sự linh hoạt tỏng việc giải quyết các trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, theo đó pháp luật đã mở rộng các trường hợp vợ chồng có thể chia tài sản chung. Trên thực tế, có những trưởng hợp vợ chồng sống với nhau về già tính tình lại không hợp và phát sinh mâu thuẫn, do vậy mà cả cùng thỏa thuận chia tài sản chung rồi sống ly thân. Luật hôn nhân và gia đình tôn trọng vấn đề này vì việc chia tài sản chung và ở riêng là có sự thỏa thuận và nhất trí của hai vợ chồng nhằm ổn định cuộc sống mỗi bên. Nhưng khi xem xét việc chia tài sản chung của vợ chồng cần lưu ý, đó là lý do chính đáng đấy phải hết sức đặc biệt đối với vợ, chồng. Tuy nhiên, khi áp dụng quy định này trên thực tế nó cũng phát sinh mặt trái, vợ chồng có thể nhân cơ hội này để thỏa thuận chia tài sản chung một cách tùy tiện nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ dân sự về tài sản đối với chủ thế thứ ba. Nếu như trước đây theo sự hướng dân của Nghị quyết số /NQ/HĐTP ngày 20/1/1988 của Hội đồng thẩm phán hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 thì: “Trong khi hôn nhân còn tồn tại, Điều 18 cho phép chia tài sản của vợ chồng nếu có lý do chính đáng như: vợ chồng tính tình không hợp nhưng con cái đã lớn nên không muốn ly hôn mà chỉ muốn ở riêng, do đó một bên hoặc cả hai bên xin chia tài sản thì tài sản được chia như khi ly hôn”.  Quy định này thể hiện bản sắc dân tộc, phù hợp với phong tục tập quán của nước ta và tạo điều kiện thuận lợi cho vợ, chồng và Tòa án xác định làm căn cứ chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Đến Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 lại chưa quy định cụ thể thế nào được coi là “lý do chính đáng khác”, vì vậy không có cơ sở để đánh giá lý do mà vợ chồng đưa ra để chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân có hợp lý hay không. Chính điều này đã làm nảy sinh nhưng quan điểm không thống nhất khi xem xét các lý do chính đáng, phát sinh chuyện Tòa án này cho đó là lý do chính đáng Tòa án khác lại không cho đó là lý do chính đáng để cho phép vợ chồng được chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.  Đây là một trong nhưng mặt hạn chế của pháp luật về hôn nhân và gia đình cần các nhà làm luật giải quyết để phù hợp với thực tế nhất.

2.2 Phương thức chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân 

Theo quy định của pháp luật hiện hành, việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có thể được thực hiện theo yêu cầu của một bên vợ chồng hoặc do hai bên cùng thỏa thuận (Điều 29 Luật hôn nhân và gia đình). Căn cứ vào quy định này có thể xác định được việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có thể thực hiện theo hai phương pháp. Theo thỏa thuận của vợ chồng hoặc do Tòa án quyết định khi vợ chồng không thỏa thuận được và có yêu cầu Tòa án giải quyết.

Thứ nhất,  trường hợp hai vợ chồng cùng thỏa thuận việc chia tài sản chung được lập thành văn bản.

Theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP thì văn bản thỏa thuận thì văn bản thỏa thuận của vợ chồng có thể có người làm chứng hoặc được công chứng, chứng thực. Văn bản thỏa thuận phải ghi rõ các nội dung như: lý do chia tài sản, phần tài sản chia, phần tài sản còn lại không chia, thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung. Đồng thời văn bản cũng phải ghi rõ: ngày, tháng, năm lập văn bản và phải có chữ kỹ của vợ, chồng, văn bản phải có người làm chứng hoặc được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật. Văn bản này có giá trị pháp lý và là cơ sở để giải quyết các tranh chấp sau này. Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản  chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân do vợ, chồng xác định. Nếu vợ, chồng không xác định được thì hiệu lực được tính từ ngày lập văn bản hoặc từ ngày mà văn bản đó được công chứng, chứng thực.

Khác với quy định trong Luật hôn nhân và gia đình năm 1986, yêu cầu văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng phải được Tòa án công nhận, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng có thể được công chứng, chứng thực hoặc không tùy theo yêu cầu của vợ, chồng. Trừ trường hợp pháp luật quy định các trường hợp văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng phải công chứng, chứng thực thì văn bản đó phải công chứng, chứng thực. Với quy định này chúng ta có thể thấy Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 tôn trọng tối đa quyền tự định đoạt của vợ, chồng đối với khối tài sản do họ làm ra. Tuy nhiên Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 lại không quy định rõ về các nguyên tắc chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân khi vợ chồng tư thỏa thuận bằng văn bản. Vì vậy khi vợ chồng tự thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bằng văn bản thì cần thiết phải áp dụng các quy định tại Điều 4 Bộ luật dân sự năm 2005 để đảm bảo một số nguyên tắc chia nhất định. Thứ nhất, việc thỏa thuận của vợ chồng là không trái với pháp luật và đạo đức xã hội. Thứ hai, việc chia tài sản chung của vợ chồng nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng trong đó ưu tiên quyền và lợi ích của người vợ và con chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có tài sản để tự nuôi mình. Thứ ba, việc thỏa thuận chia tài sản của vợ chồng không nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sản của vợ hoặc chồng với người thứ ba…

Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp các cặp vợ chồng đều có thể tự thỏa thuận chia tài sản chung của mình được vì một lý do nào đó. Vì vậy Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định trong trường hợp vợ chồng không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

Thứ hai, trường hợp vợ yêu cầu Tòa án chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. 

Trước đây Điều 18 Luật hôn nhân và gia  đình năm 1986 quy định: “Khi hôn nhân tồn tại nếu một bên yêu cầu và có lý do chính đáng thì có thể chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định ở Điều 42 của Luật này. Theo đó, tài sản chung của vợ chồng được chia theo nguyên tắc tài sản riêng của bên nào thì vẫn thuộc quyền sở hữu của bên đó, tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có xem xét một cách hợp lý đến tình hình tài sản, tình trạng cụ thể của gia đình và công sức đóng góp của mỗi bên. Trong trường hợp vợ chồng do còn sống chung với gia đình mà tài sản của người thân vợ chồng không xác định được thì thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức của người được chia đóng góp vào việc duy trì và phát triển khối tài sản chung đó. Kế thừa quy định này của  Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “ Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung; việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản; nếu không thỏa thuận được  thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết”. Tuy nhiên, theo quy định trước đây tại Điều 18 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 thì nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân với trường hợp vợ chồng yêu cầu Tòa án giải quyết được quy định tương đối rõ rang và chi tiết thì Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 lại không quy định các nguyên tắc chia đối với trường hợp này. Có lẽ các nhà làm luật đã “bỏ quên” nguyên tắc chia này dẫn đến tình trạng thực tiễn khi Tòa án giải quyết gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc vì không biết chia như thế nào. Vì vậy, để Tòa án có thể chia được trong trường hợp vợ chồng có yêu cầu Tòa án chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì Tòa án cần áp dụng các nguyên tắc chia tài sản cung của vợ chồng như khi ly hôn đã được quy định trong Luật hôn nhân và gia đình năm 1986. Đây được coi là bước thụt lùi của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, vì vậy các nhà làm luật cần được bổ xung và hoàn thiện các quy định liên quan đến vấn đề này trong dự thảo Luật hôn nhân và gia đình mới.

3. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân 

Thứ nhất, cần hoàn thiện pháp luật về xác định tài sản chung của vợ chồng. Trong quá trình áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã bộc lộ nhiều điểm bất cập, nhiều quy định không phù hợp với thực tế khi giải quyết các tranh chấp liên quan đến hôn nhân và gia đình nói chung và tranh chấp về vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng nói riêng. Cụ thể là: Pháp luật cần bổ sung các quy định hướng dẫn về các trường hợp được coi là: “lý do chính đáng khác” để chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Luật hôn nhân và gia đình hiện hành mới chỉ quy định vợ chồng được thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân trong trường hợp vợ, chồng đầu tư kinh doanh riêng, để thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng và trường hợp có lý do chính đáng khác. Tuy nhiên lý do nào được xác định là chính đáng thì hiện nay pháp luật vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể. Trên thực tế khi xét xử hầu hết các Tòa án chỉ dựa vào sự phán xét cá nhân của mình để nhận định đó có phải là lý do chính đáng hay không để giải quyết cho chia tài sản chung của vợ chồng. Thực trạng này nảy sinh nhiều vấn đề bất cập khác gây ảnh hưởng tới quyền và lợi ích của những người có liên quan. Do vậy để tạo cơ sở pháp lý cho Tòa án khi xem xét lý do của các bên vợ chồng và quyết định vợ chồng có được phép chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân hay không. Xuất phát từ lý do này thiết nghĩ các cơ quan lập pháp cần xem xét ban hành một văn bản hướng dẫn cụ thể về: “các lý do chính đáng” như: trong quá trình chung sống vợ chồng có mâu thuẫn tới mức không thể chung đụng tại sản với nhau nhưng không muốn ly hôn để tránh ảnh hướng tới chuyện học hành của con cái, vợ chồng tuổi đã cao trái tính, trái nết không thể chiều nhau và quyết định dọn đi ở cùng các con và muốn chia tài sản chung, trường hợp một bên vợ hoặc chồng có hành vi phá tán tài sản vì ham mê cờ bạc, lô đề hoặc có hành vi ngoại tình mang tài sản cho người khác…mà chưa quyết định lý hôn…Đây có thể coi là các lý do chính đáng để vợ chồng có thể yêu cầu Tòa án chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.

Thứ hai, chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân không làm chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật. Có trường hợp vợ chồng tự thỏa thuận hoạc yêu cầu Tòa án chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung. Có trường hợp sau khi đã chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng vẫn cùng chung sống hoặc đã ở riêng, do vậy cần dự liệu về nghĩa vụ của vợ chồng đối với nhau, đối với con chung và nghĩa vụ đóng góp tài sản chung nhằm bảo đảm đời sống chung của gia đình. Ví dụ như hang tháng căn cứ vào mức thu nhập của mỗi bên vợ chồng mà trích ra một khoản tiền nhất định để đảm bảo đời sống chung của gia đình. Mặt khác pháp luật cũng cần dự liệu trường hợp sau khi đã chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, mà một thời gian sau vợ chồng mới có yêu cầu ly hôn hoặc một bên vợ hoặc chồng chết trước những tài sản nào được xác định là khối tài sản chung của vợ chồng thì mới được chia.

Thứ ba, theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 hiện hành chỉ công nhận vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng có quyền yêu cầu Tòa án chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, quyền khởi kiện của người thứ ba trong trường hợp này không được công nhận(Điều 29 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000) là hoàn toàn phù hợp về mặt nguyên tắc. Tuy nhiên, nếu áp dụng quy định này vào thực tiễn vẫn còn vấn đề bất cập cần phải có sự vận dụng linh hoạt hơn. Theo luật hiện hành khi vợ hoặc chồng có nghĩa vụ tài sản riêng thì nghĩa vụ tài sản đó được thực hiện bằng tài sản riêng của họ, tài sản chung của vợ chồng không được sử dụng cho việc thanh toán các khoản nợ này trừ khi vợ chồng có thỏa thuận(Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2000). Ví dụ: Anh A và chị B là vợ chồng, anh chị có khối tài sản chung là 100 triệu đồng. Vì ham mê cờ bạc lô đề nê anh A đã vay nặng lãi số tiền 50 triệu đồng. Áp dụng quy định trên, khoản nợ 50 triệu của mình anh A phải trả bằng tài sản riêng của mình chứ không được sử dụng tài sản chung của vợ chồng anh chị là 100 triệu để trả, trừ trường hợp chị B đồng ý. Vấn đề đặt ra là rất có thể người có nghĩa vụ tài sản với người thứ ba không có hoặc không đủ tài sản riêng để thanh toán các khoản nợ và vợ chồng đã không có thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án chia tài sản chung để trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản với người thứ ba. Trong trường hợp này nếu không thừa nhận quyền yêu cầu của người có quyền(chủ nợ) về chia tài sản chung của vợ chồng để lấy phần tài sản của người có nghĩa vụ thanh toán nợ thì quyền lợi của họ sẽ không được đảm bảo. Bên cạnh đó, trong thực tế cũng xuất hiện nhiều yêu cầu đề nghị chấp nhận quyền yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng  trong thời kỳ hôn nhân cho người than của hai bên vợ hoặc chồng. Ví dụ: Vợ  chồng anh A và chị B là chủ một doanh nghiệp tư nhân với khối tài sản chung lên tới hàng chục tỷ đồng. Không may một ngày chị B bị tai nạn giao thông nghiêm trọng, bác sỹ kết luận giờ chị B chỉ sống thực vật. Khoảng thời gian đầu anh A còn quan tâm chăm sóc vợ và gia đình tuy nhiên thời gian trôi qua anh A có biểu hiện phá tán tài sản, sử dụng tài sản chung của vợ chồng để bao gái. Mà không hề quan tâm tới vợ con, anh cũng không có ý định xin lý hôn vì muốn nắm giữ hết số tài sản trên. Thấy việc làm của anh A là sai bố mẹ đẻ của chị B rất bức xúc và muốn làm đơn đề nghị Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng anh chị nhưng chị B không thể trực tiếp thực hiện được vì vậy Tòa án không có căn cứ pháp lý để giải quyết. 

Theo em, trong những trường hợp này pháp luật cần có những quy định rằng: Trong trường hợp người có quyền có đủ chứng cứ cho rằng vợ chồng không có thỏa thuận hoặc không yêu cầu Tòa án chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản thì người có quyền có thể yêu cầu Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân để lấy phần tài sản của người vợ hoặc người chồng có nghĩa vụ thực hiện thanh toán các khoản nợ. Đồng thời khi người thân của vợ hoặc chồng có đầy đủ chứng cứ chứng minh rằng người vợ hoặc người chồng có hành vi phá tán tài sản chung của vợ chồng trong khi người kia không có điều kiện quản lý thì Tòa án chấp nhận yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân của người đó để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ hoặc chồng. Tuy nhiên, yêu cầu của người có quyền hoặc người than của vợ hoặc chồng sẽ không được Tòa án công nhận nếu việc chia tài sản chung ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình  của người có nghĩa vụ.

Thứ tư, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và nghị định số 70/2001/NĐ-CP quy định các trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân mà không có lý do chính đáng thì bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu. Tuy nhiên Luật lại không quy định ai là người có quyền yêu cầu Tòa án hủy bỏ thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của vợ, chồng. Mặt khác, Luật hôn nhân và gia đình cũng chưa quy định hậu quả pháp lý của việc Tòa án tuyên bố vô hiệu đối với thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Cần bổ sung quy định trong trường hợp thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân bị Tòa án tuyên vô hiệu, chế độ tài sản của vợ chồng được khôi phục lại tình trạng như trước khi có thỏa thuận chia tài sản chung. 

KẾT LUẬN

Để pháp luật có thể bám sát đời sống xã hội và thực hiện chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội đòi hỏi các nhà làm luật cần xem xét nghiên cứu tình hình thực tế để bổ xung và hoàn thiện các quy định của pháp luật về các quan hệ hôn nhân và gia đình đáp ứng yêu cầu của xã hội đạt ra trong thời gian gần đây.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000;
2. Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 1986;
3. Luật dân sự Việt Nam năm 2005;
4. Nghị định của Chính phủ số 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 quy định chi tiết thi hành Luật HNGĐ năm 2000;
5. Nghị quyết số 01/1988 của HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 1986;
6. Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 hướng dẫn toà án nhân dân các cấp áp dụng một số quy định của Luật HNGĐ;
7. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Nxb. CAND, Hà Nội, 2007;
8. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật dân sự Việt Nam, Nxb. CAND, Hà Nội, 2006.
9. Bộ môn luật hôn nhân và gia đình, "Tài sản của vợ chồng trong hoạt động sản xuất kinh doanh", Đề tài khoa học cấp trường, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2007.
10. Nguyễn Văn Cừ, "Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật HNGĐ  Việt Nam", Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2005.

No comments:

Post a comment