03/09/2014
Tóm tắt giáo trình Luật Chứng Khoán - Vấn đề 1 - Những vấn đề cơ bản về luật chứng khoán
Vấn đề 1: Những vấn đề cơ bản về luật chứng khoán.

I. Khái niệm về chứng khoán và thị trường chứng khoán

1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại chứng khoán

a. Sự xuất hiện của chứng khoán.

Chứng khoán lần đầu tiên xuất hiện ở Châu âu vào giữa thế kỉ 20 tại Bruges(Bỉ), theo đó, các thỏa thuận đc xác lập cho các giao dịch thực hiện ngay và các giao dịch được thực hiện sau đó khoảng 1 thời gian nhất định.

Ở Mỹ (quốc gia có nền kinh tế chiếm tỷ trọng lớn nhất của nền kinh tế toàn cầu), sau khi đắc cử(1789), Tổng thống George Washington công bố việc phát hành công trái sau đó các loại cổ phiếu cũng được phát hành để hình thành các tổ chức kinh tế.

Ở VN, cụm từ “ chứng khoán” đã xuất hiện khá lâu ngày từ thời kì Pháp thuộc do hiện tượng du nhập các mô hình tổ chức kinh tế từ Pháp,Anh và đặc biệt tại miền Nam VN sau 1945 có sự ảnh hưởng mạnh mẽ của Hoa Kì. Cho đến nay, thuật ngữ” chứng khoán” đã trở nên rất quen thuộc với các dạng như: cổ phiếu,trái phiếu,chứng chỉ quỹ đầu tư...

b. Định nghĩa chứng khoán:

Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành.Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ,bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại sau đây:
a)Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ: 
b)Quyền mua cổ phần,chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán.(khoản 1 điều 6 luật Chứng Khoán).

c. Đặc điểm của chứng khoán.

- Tính sinh lợi thể hiện ở việc người phát hành ra chúng phải trả cho người sở hữu chứng khoán lợi tức trong tương lai để nhận về mình quyền sử dụng vốn. Tính sinh lợi xuất hiện khi người nắm giữ chứng khoán giao dịch ck như loại tài sản được phép.

- Tính thanh khoản tạo cho người sở hữu chứng khoán chuyển đổi dạng tài sản từ chứng khoán sang tiền thông qua giao dịch tại thị trường thứ cấp hoặc thông qua nghiệp vụ ngân hàng. Tính chất này phụ thuộc vào uy tín của chủ thể phát hành, vào chi phí chuyển đổi và sự biến động của thị trường.

- Tính rủi ro thể hiện ngay ở bản chất của hoạt động đầu tư vốn.Mức độ rủi ro tiềm tàng đến đâu còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thời gian đầu tư, chủ thể nhận vốn cùng các cam kết khác chính là những yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới độ rủi ro.

d. Bản chất của chứng khoán.

Theo phương diện kinh tế, chứng khoán được coi là loại “ tư bản giả”.Điều này có nghĩa, lượng vốn (tư bản thật)đã được nhà đầu tư(người nắm giữ ck) chuyển cho các tổ chức phát hành và họ chỉ nắm giữ những phương tiện thể hiện có lượng tư bản đang tồn tại thực tế mà thôi 

Theo phương diện pháp lý, ck là loại tài sản với đầy đủ đặc tính của nó.Từ khi xuất hiện, do tự giác hay tự phát,ck đã đc công nhận là loại ts, với những đặc điểm là “ giấy tờ có giá”. Người sở hữu ck có thể chuyển nhượng, kiếm lợi,tặng cho...ck như bất kì loại ts nào khác.

e. Phân loại chứng khoán.

*Căn cứ vào quyền sở hữu chứng khoán đối với người phát hành:

- Chứng khoán vốn là loại ck xác nhận sự góp vốn và quyền liên quan đến phần vốn góp của chủ sở hữu ck đối với đối tượng phát hành ra nó. Đặc điểm:nhà đầu tư không xác định được thời gian thu hồi,mức thu nhập từ việc đầu tư nhưng lại có cơ hội tham gia vào kiểm soát hoặc trực tiếp kinh doanh phần vốn đã thu hút.Tồn tại dưới 2 dạng: cổ phiếu và chứng chỉ quỹ đầu tư(ngoài ra còn chứng quyền).Cổ phiếu(stock, share) là loại ck xác nhận số cổ phần mà cổ đông đó nắm giữ tại một công ty cổ phần và quyền được hưởng một phần lợi nhuận dưới hình thức cổ tức cũng như quyền tham gia quản lí công ty.Chứng chỉ quỹ đầu tư là loại chứng khoán do công ty quản lí quỹ đầu tư hoặc các quỹ đầu tư phát hành, xác nhận phần vốn góp và quyền hưởng lợi của người đầu tư đối với quỹ.

- Chứng khoán nợ-một ck rất phổ biến, tạo ra sự ổn định tương đối trong giao dịch trên thị trường là trái phiếu. Trái phiếu là phương tiện vay nợ, theo đó chủ thể phát hành ra nó cam kết sẽ trả lại cả gốc và lãi vào thời gian nhất định trong tương lai.(trái phiếu Chính phủ,trái phiếu doanh nghiệp do DN phát hành

* Căn cứ vào khả năng xác định người sở hữu chứng khoán: chứng khoán ghi danh và chứng khoán vô danh. Chứng khoán ghi danh có đặc điểm người sở hữu chứng khoán chính là người được ghi tên trên chứng khoán đó và việc chuyển nhượng giao dịch ck này cần phải thực hiện theo những trình tự nhất định.Chứng khoán vô danh không ghi tên người sở hữu chứng khoán, những ai đang nắm giữ chứng khoán một cách hợp pháp chính là người sở hữu chứng khoán.

*Căn cứ vào hình thái biểu hiện: ck chứng chỉ và ck ghi sổ. Chứng khoán chứng chỉ đượcc thể hiện bằng các chứng từ với đầy đủ các thông tin về tổ chức phát hành, mệnh giá,thời gian phát hành và các thông tin khác. Chứng khoán ghi sổ có đặc điểm trên đó tổng hợp chứng khoán (theo từng tài khoản) của người sở hữu chứng khoán.

2. Khái niệm, đặc điểm của thị trường chứng khoán.

Thị trường chứng khoán (TTCK) là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, trao đổi chứng khoán.
Hàng hóa trên thị trường ck là các loại ck dài hạn và trung hạn
TTCK không thể thiếu các chủ thể trung gian( ko thể tồn tại đc khi chỉ có các DN, các nhà đầu tư.
Ko tồn tại độc lập( có tính nhạy cảm sâu sắc đối với nền kinh tế và xh; tính quốc tế)

Chủ thể trên thị trường ck bao gồm: nhà đầu tư(nhà đầu tư chuyên nghiệp: cty đầu tư ck,quỹ đầu tư ck,các định chế tổ chức khác; nhà đầu tư không chuyên nghiệp: đa phần là cá nhân); tổ chức trung gian là những chủ thể liên kết nhà đầu tư với tổ chức phát hành và giữa các nhà đầu tư với nhau (gồm: cty ck,cty quản lý quỹ đầu tư ck,sở giao dịch ck,trung tâm lưu kí ck,ngân hàng giám sát, ngân hàng thanh toán..); tổ chức phát hành ck( nhà nước, các tổ chức kinh tế); cơ quan quản lý nhà nước( Chính phủ, bộ Tài chính,Ủy ban ck NN)

Các nguyên tắc: đảm bảo quyền tự do kinh doanh; công khai, minh bạch; công bằng; đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư.

3. Khái quát về thị trường chứng khoán VN.

Từ những năm 1980 trở lại đây, VN có bước chuyển biến quan trọng: chuyển từ cơ chế quản lí tập trung với nền kinh tế kế hoạch hóa sang cơ chế thị trường và hiện nay chúng ta đang thực hiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. TTCk là mô hình đặc trưng của nền kinh tế thị trường phát triển.

TTCK VN có mối quan hệ mật thiết với quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước.Quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã tạo điều kiện hết sức quan trọng thúc đẩy quá trình phát triển của thị trường sơ cấp cũng như hình thành thị trường thứ cấp ở VN. Ngược lại TTCK cũng có ảnh hưởng ko nhỏ đến quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, từ giai đoạn cổ phần hóa đến giai đoạn niêm yết ck và khi có nhu cầu phát hành chứng khoán để tăng vốn doanh nghiệp.

II. Khái niệm luật chứng khoán.

1. Định nghĩa luật chứng khoán.

Luật CK tổng hợp những nguyên tắc, định hướng cơ bản của cơ chế hoạt động ck và TTCK đã được thể chế hóa, là tổng hợp quy phạm pl điều chỉnh quan hệ xh phát sinh trong quá trình chào bán, niêm yết và giao dịch ck trên lãnh thổ VN và các hoạt động liên quan đến ck của các tổ chức cá nhân VN.

Pháp luật CK bản thân nó đã thể hiện rõ phạm vi điều chỉnh và đối tượng điều chỉnh của chúng. Điều 1 luật Ck năm 2006 xác nhận: “Luật này quy định về hoạt động chào bán ra công chúng, niêm yết, giao dịch, kinh doanh, đầu tư ck,dịch vụ về ck và TTCK”.

Các quan hệ xã hội là đối tượng điều chỉnh, thuộc phạm vi điều chỉnh của pl chứng khoán gồm 6 nhóm:

(1) Nhóm quan hệ phát sinh trong quá trình chào bán chứng khoán: Chào bán ck là hoạt động phức tạp, bao gồm nhiều nhóm, nhiều giai đoạn tiến hành các loại hành vi khác nhau để đảm bảo sao cho ck có thể đến được tay người cần mua.Nếu đặt quan hệ phát sinh trong quá trình chào bán ck vào môi trường( thị trường) cụ thể thì đây là hoạt động cơ bản phát sinh trên thị trường sơ cấp (thị trường phát hành)

Trong giai đoạn chào bán ck có những loại quan hệ sau: Quan hệ giữa tổ chức phát hành với tổ chức kinh doanh ck hoặc định chế tài chính trung gian trong việc hỗ trợ phát hành như tư vấn phát hành hay bảo lãnh phát hành hay đại lí phát hành; Quan hệ giữa tổ chức phát hành với các tổ chức định mức tín nhiệm(nếu có): quan hệ giữa tổ chức phát hành với cơ quan quản lí nhà nước gắn liền với hoạt động phát hành ck: đăng kí chào bán chứng khoán ra công chúng với Ủy ban ck nhà nước, xin phép NHNN nếu là các tổ chức tín dụng, thông báo với UBCKNN nếu chào bán chứng khoán ở các nước ngoài, xin phép Bộ tài chính trong trường hợp luật định; Quan hệ giữa tổ chức phát hành với giới truyền thông và các chủ thể luật định trong quá trình công bố thông tin về quá trình chào bán; Quan hệ giữa tổ chức phát hành với nhà đầu tư.

(2) Nhóm quan hệ phát sinh trong quá trình niêm yết chứng khoán: Niêm yết ck hiểu đơn giản nhất là việc thực hiện các hoạt động cần thiết để một loại ck nhất định có thể công bố công khai trên thị trường có tổ chức và các đối tượng quan tâm có cơ sở tin cậy, thực hiện giao dịch ck này. Các ck niêm yết phải hội tụ đủ những tiêu chí, điều kiện nhất định và theo đó, chúng sẽ đc công bố, đưa vào giao dịch tại thị trường có tổ chức: SGDCK hay TTGDCK; nếu ko đủ điều kiện, ko đc đưa vào mua bán tại thị trường này.

Quá trình niêm yết chứng khoán đc duy trì thông qua các quan hệ cơ bản sau: Quan hệ giữa tổ chức đăng kí niêm yết với SGDCK hay TTGDCK; Quan hệ giữa tổ chức niêm yết chứng khoán với tổ chức tư vấn niêm yết, tổ chức kiểm toán được chấp nhận, cá nhân kí báo cáo kiểm toán, báo cáo tài chính của tổ chức niêm yết; Quan hệ giữa tổ chức niêm yết với những người có liên quan và cổ đông lớn của công ti...

(3) Nhóm quan hệ phát sinh trong quá trình giao dịch chứng khoán: GDCK có thể đc thực hiện bởi các chủ thể kinh doanh chứng khoán hoặc bởi các nhà đầu tư đơn thuần hoặc bởi chính các tổ chức phát hành(khi thực hiện giao dịch liên quan đến cổ phiếu quỹ). Các tổ chức kinh doanh chứng khoán thực hiện nhiều loại giao dịch khác nhau(khoản 19 điều 6 luật CK).

Thông thường các quan hệ phát sinh trong quá trình giao dịch chứng khoán gồm những loại chủ yếu sau: Quan hệ phát sinh giữa thành viên giao dịch với SGD hay TTGDCK; Quan hệ phát sinh giữa tổ chức niêm yết, tổ chức tư vấn niêm yết với SGD hay TTGDCK đối với những ck mới niêm yết, đưa vào giao dịch; Quan hệ giữa đại diện giao dịch của công ti ck là thành viên với SGD hay TTGD; Quan hệ giữa khách hàng là nhà đầu tư chuyên nghiệp và hay hoặc ko chuyên nghiệp với công ti chứng khoán từ khâu đầu tiên đến khâu cuối cùng của quá trình giao dịch.

(4) Nhóm quan hệ gắn với tổ chức thị trường, hoạt động của các mô hình hỗ trợ thị trường:
Quan hệ phát sinh trên thị trường tập trung thường là quan hệ giữa tổ chức điều hành thị trường với các thành viên tham gia gắn với trách nhiệm giao dịch.Quan hệ phát sinh trên thị trường ck tập trung thường bao gồm các loại cơ bản sau: Quan hệ giữa tổ chức điều hành thị trường ck(SGD hay TTGDCK) với các tổ chức thành viên; Quan hệ giữa tổ chức điều hành thị trường ck với các tổ chức có nhu cầu niêm yết/niêm yết và giao dịch ck; Quan hệ giữa tổ chức điều hành thị trường ck với các tổ chức hỗ trợ thị trường như tổ chức lưu kí, trung tâm thanh toán bù trừ

Các quan hệ trên thị trường ck phi tập trung gắn với nhà đầu tư, tổ chức quản lí thị trường và các công ti ck. Nhóm quan hệ phát sinh trên thị trường này có mức độ, tính chất, yêu cầu kiểm soát thấp hơn so với giao dịch trên thị trường tập trung. Tại đây có thể phát sinh một số quan hệ: Quan hệ giữa tổ chức thị trường(SGD hay TTGDCK) với tổ chức có ck giao dịch; Quan hệ giữa tổ chức thị trường với công ti chứng khoán là thành viên; Quan hệ giữa tổ chức thị trường với nhà đầu tư có nhu cầu tham gia giao dịch ck trên thị trường ck phi tập trung; Quan hệ giữa nhà đầu tư ck với “ nhà tạo lập thị trường”, với tổ chức có ck giao dịch(tùy theo loại giao dịch mà nhà đầu tư tham gia);

Trên thị trường tự do, quan hệ ck đc thực hiện đối với các loại ck do các tổ chức phát hành thường có quy mô nhỏ, ko có nhu cầu thực hiện chào bán chứng khoán rãi. PL điều chỉnh giao dịch trên thị trường này có độ “ lỏng” hơn so với các thị trường kia. Các quan hệ phổ biến trên bộ phận thị trường này: Quan hệ giữa các nhà đầu tư khi giao dịch chứng khoán đã phát hành, ko đăng kí giao dịch trên thị trường tập trung hay phi tập trung; Quan hệ giữa nhà đầu tư và công ti đại chúng tự doanh; Quan hệ giữa công ti chứng khoán với tổ chức có ck giao dịch trên thị trường tự do.

Bên cạnh sự tồn tại và các mối quan hệ liên quan đến giao dịch phát sinh trên các bộ phận thị trường ck, luôn tồn tại các chủ thể hỗ trợ cho hoạt động bình thường của thị trường cùng với các quan hệ của nó. Trung tâm lưu kí ck(TTLKCK), trung tâm thanh toán bù trừ, các tổ chức định mức tín nhiệm đc hình thành và tồn tại ko nằm ngoài những mục tiêu đó. Với mục tiêu hỗ trợ đồng thời gián tiếp quản lí hoạt động thị trường, các tổ chức hỗ trợ này thường có các quan hệ sau: Quan hệ giữa TTLKCK với các cơ quan quản lí có thẩm quyền; Quan hệ giữa TTLKCK với công ti ck thành viên, với công ti đại chúng..; Quan hệ giữa tổ chức định mức tín nhiệm với tổ chức phát hành; Quan hệ giữa trung tâm thanh toán bù trừ với công ti ck, với nhà đầu tư.

(5) Nhóm quan hệ gắn với hoạt động quản lí thị trường: Hoạt động quản lí nhà nước đối với thị trường ck đc đặt ra như bộ phận quan trọng trong lĩnh vực quản lí nhà nước ở các quốc gia có thị trường ck. Hành vi quản lí thị trường đc thực hiện bởi cơ quan quản lí chung và cơ quan quản lí chuyên ngành. Đượcc thể hiện thông qua các quan hệ cơ bản sau: Quan hệ giữa UBCKNN với cơ quan quản lí NN khác về ck và ttck; Quan hệ quản lí giữa UBCK với SGD hay TTGDCK, các tổ chức hỗ trợ thị trường; Quan hệ quản lí giữa UBCK với các chủ thể kinh doanh ck; Quan hệ quản lí giữa UBCK với các tổ chức chào bán chứng khoán ra công chúng, công ti đại chúng , tổ chức niêm yết; Quan hệ quản lí chung của UBCK đối với thị trường và công ti đầu tư...

Bên cạnh hoạt động quản lí nhà nước với tính chất bắt buộc, yếu tố hành chính thể hiện trong từng quan hệ, xu hướng nới rộng cách thức quản lí, giao quyền quản lí cho các tổ chức tự quản ngày càng trở nên phổ biến ở các quốc gia. Hoạt động quản lí của các tổ chức tự quản đc thừa nhận chính thức và ngày càng mở rộng về phạm vi và mức độ quản lí. Gồm các quan hệ: Quan hệ quản lí giữa sở giao dịch ck với các tổ chức thành viên; Quan hệ quản lí giữa sở giao dịch chứng khoán với các tổ chức niêm yết và các tổ chức có liên quan, tham gia vào quá trình hoạt động tại SGDCK.

(6) Nhóm quan hệ gắn với việc xử lí vi phạm và giải quyết tranh chấp trên thị trường ck: Xử lí vi phạm trong lĩnh vực ck trước hết phải xác định đc hành vi vi phạm, theo đó có cách thức và chế tài xử lí thích hợp. Hành vi vi phạm có thể là: Giao dịch nội gián, được hiểu là hành vi lợi dụng công việc hoặc lợi thế tiếp nhận thông tin để trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện hoạt động mua bán ck với mục đích trục lợi; Thao túng thị trường; Lừa đảo ck; Không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, ko đầy đủ các quy định mà các chủ thể tham gia buộc phải thực hiện

Với những vi phạm cơ bản trên, cơ quan quản lí NN có thẩm quyền thực hiện các hoạt động cần thiết nhằm đưa ra phán quyết về mức độ, cách thức xử lí tương xứng.Giải quyết tranh chấp trên thị trường ck làm phát sinh quan hệ giữa các bên tranh chấp với nhau hoặc bên thứ 3 (cơ quan hòa giải hoặc cơ quan trọng tài,tòa án)theo những nguyên tắc và trình tự nhất định.

2. Quan hệ pháp luật chứng khoán:
Là quan hệ xh phát sinh trong quá trình hình thành, chuyển giao ck được các quy phạm pl điều chỉnh mà hậu quả pháp lí là tạo ra những quyền và nghĩa vụ pháp lí cho các chủ thể.

Quan hệ pháp luật ck được xem xét phân loại dựa vào nhữn tiêu chí cơ bản sau:

* Căn cứ vào chủ thể tham gia quan hệ có quan hệ pl ck mang tính hành chính và quan hệ mang tính bình đẳng thỏa thuận. Quan hệ pháp luật ck mang tính hành chính xuất hiện khi có sự tham gia của cơ quan quản lí NN về ck tham gia với tư cách là chủ thể quản lí và các đối tượng bị quản lí(VD: quan hệ về việc cấp và thu hồi các loại giấy phép...) Quan hệ pháp luật giữa các chủ thể kinh doanh ck, quan hệ giữa các tổ chức phát hành với nhà đầu tư, quan hệ giữa nhà đầu tư với công ti ck... thể hiện sự tự nguyện, bình đẳng thực sự giữa các bên trong quá trình thiết lập quan hệ và thực hiện hành vi liên quan đến ck.

* Căn cứ vào lĩnh vực phát sinh trên thị trường ck quan hệ pháp luật ck đc phân chia tương ứng với các quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật ck

Ý nghĩa của việc xác định tiêu chí và phân loại quan hệ pl ck: có ý nghĩa quan trọng phù hợp với các đối tượng khác nhau. Nhà làm luật sử dụng tiêu chí và nơi dung phân chia quan hệ pháp luật để ban hành hệ thống các văn bản đảm bảo tính khả thi, phù hợp với các đặc điểm của từng nhóm quan hệ pháp luật ck. Đối với các đối tượng áp dụng pháp luật hoặc tuân thủ pháp luật, việc xác định đúng loại quan hệ cùng với tính chất của chúng giúp ta có cách ứng xử đúng đắn hoặc áp dụng pháp luật phù hợp.

Rõ ràng, việc phân loại quan hệ pháp luật ck cho thấy các loại chủ thể tham gia quan hệ. Các chủ thể kinh doanh ck là loại chủ thể quan trọng và chủ yếu của quan hệ pl ck. Nhóm chủ thể này có thể là công ti ck,công ti quản lý quỹ đầu tư ck, tổ chức lưu kí, tổ chức phát hành ck, nhà đầu tư...

Trên thị trường ck, căn cứ phát sinh quan hệ pháp luật ck là hành vi pháp lí liên quan đến ck(sự kiện pháp lí) và sự tồn tại của quy phạm pl điều chỉnh chính loại hành vi đó(cơ sở pháp lí). Hành vi pháp lí phải đc thực hiện chủ thể cụ thể, cho dù đó là chủ thể quản lí nhà nước hay các chủ thể khác có mục đích và nội dung liên quan đến ck. Đối với cơ sở pháp lí làm phát sinh quan hệ pháp luật ck cũng ko hoàn toàn ổn định và bất biến. Chúng cũng làm thay đổi, hình thành hay chấm dứt quan hệ pháp luật ck cụ thể.

Chúc các bạn học tập đạt kết quả tốt! ^.^

No comments:

Post a comment