14/11/2014
So sánh chế độ hôn nhân của Luật Dân sự La Mã (thời cộng hòa hậu kì và thời quân chủ) và chế định hôn nhân của Bộ luật Hammurabi - 9d
A. LỜI MỞ ĐẦU


Ngay từ thời cổ đại, pháp luật đã là một nét đẹp tô điểm cho nền văn minh của nhân loại. Nổi bật trong số đó phải kể đến hai bộ luật Hammurabi của Lưỡng Hà và luật La Mã. Cả hai bộ luật đã phản ánh và điều chỉnh rất nhiều những quan hệ xã hội thời bấy giờ, trong đó có quan hệ hôn nhân gia đình, một trong những nền tảng của xã hội. Bài viết sẽ chỉ ra những điểm giống nhau và khác nhau giữa các quy định của hai bộ luật về các vấn đề kết hôn, ly hôn, quan hệ gia đình, thừa kế. Qua đó, đánh giá về sự tiến bộ, cũng như những mặt hạn chế tương quan giữa chúng.


B. NỘI DUNG

I. Giới thiệu

1. Luật Dân sự La Mã: Luật dân sự La Mã là pháp luật thành văn của nước La Mã cổ đại. đạo luật đầu tiên là “Luật mười hai bảng” được ghi vào năm 456 TCN trên mười hai tấm bảng bằng đồng. sau này, hoàng đế Justinian I đã ra lệnh sưu tập lại các văn bản luật cũ. Tác phẩm luật mà sau này được biết đến dưới tên “Corpus Iuris Civilis” – gồm mười hai quyển – là bộ luật lớn nhất, đầy đủ nhất của La Mã. Luật La Mã đã có rất nhiều khái niệm, chế định, đặc biệt trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình cho đến nay vẫn phát huy được giá trị.

2. Luật Hămmurabi: Luật Hămmmurabi được tạo ra vào khoảng thập niên 1760 TCN ở Babilon cổ đại. Nó được vị vua thứ sáu của Babilon là Hămmmurabi ban hành. Văn bản được các nhà khảo cổ tìm ra và thống kê có 282 luật. Bộ luật Hămmmurabi là bộ luật thành văn cổ nhất trên thế giới, là một trong những thành tựu có giá trị bậc nhất của lịch sử văn minh cổ đại. Giá trị của Bộ luật này cho đến nay vẫn tiếp tục được nhiều nhà khoa học tập trung nghiên cứu, khai thác và kế thừa.

II. So sánh chế định hôn nhân và gia đình của Luật Dân sự La Mã với chế định hôn nhân và gia đình của Luật Hămmmurabi

Giống nhau

Thứ nhất: Pháp luật thừa nhận hôn nhân là sự chung sống lâu dài giữa một người đàn ông và phụ nữ, qua đó Qua đó, làm phát sinh quan hệ tài sản, nhân thân, và quyền thừa kế sau này.

Thứ hai: Trong các quy định về mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái trong gia đình, Luật Hamurabi xây dựng hình mẫu “gia trưởng phụ quyền” còn Luật La Mã đưa ra chế định “quyền cha”. Tuy tên gọi khác nhau nhưng cả hai khái niệm này đều có cùng một bản chất là quyền hạn tuyệt đối của người cha đối với con cái trong gia đình.

Thứ ba: Ở một khía cạnh nhất định, cả hai bộ luật đều thừa nhận tài sản riêng của người vợ. Điều này được thể hiện ở việc người chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng nhưng không có quyền định đoạt tài sản hồi môn của vợ hay Điều 151 Luật Hamurabi quy định: Nếu hai người sau khi kết hôn mà có sự thỏa thuận được xác lập bằng văn bản thì người tài sản hồi môn của người vợ sẽ không bị tịch biên theo các khoản nợ của người chồng. Còn trong Luật La Mã, với hình thức hôn nhân sine manu (không dưới quyền chồng) thì người vợ có quyền sở hữu tài sản riêng và có quyền ủy quyền cho chồng quản lý, được xác lập bằng văn bản có chứng thực của cơ quan có thẩm quyền.

Thứ tư: Cả hai bộ luật đều thừa nhận chế định nuôi con nuôi, đồng thời cũng có những quy định nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người được nuôi như việc cho phép con nuôi cũng được thừa kế như con đẻ, …

Thứ năm: Cả hai bộ luật đều có những quy định cho phép chấp dứt quan hệ hôn nhân bằng cách ly hôn, tuy vậy, ở cả hai bộ luật Hamurabi và La Mã, các nhà lập pháp đều đưa ra những quy định hạn chế quyền ly hôn của người vợ. Rõ ràng thấy sự bất bình đẳng trong quyền lợi của người phụ nữ trong quan hệ hôn nhân theo quy định của Luật Hamurabi và Luật La Mã. Một điểm giống nhau nữa là cả hai bộ luật đều cho phép người vợ sau khi ly hôn được nhận là tài sản hồi môn của mình.

Khác nhau

Kết hôn

- Chế độ hôn nhân: Đây là điểm khác nhau đầu tiên và cũng là cơ bản giữa hai bộ luật, Luật Hamurabi thừa nhận chế độ đa thê, theo đó người chồng được phép lấy nhiều vợ. Trong khi đó, Luật La Mã lại quy định người đàn ông chỉ có thể lấy một vợ chính thức, và chung sống tự nguyện với nhiều người vợ khác. Mặc dù về mặt bản chất, việc quy định cho phép người đàn ông được phép chung sống tình nguyện với nhiều người phụ nữ thì cũng không khác so với chế độ đa thê ở Lưỡng Hà nhưng xét trên khía cạnh pháp lý, quy định này là chứng minh rõ nhất cho việc Luật La Mã đã có sự tiến bộ hơn nhiều so với Luật Hamurabi, theo đó, Luật La Mã đã bắt đầu bảo vệ quyền lợi cơ bản của người phụ nữ trong hôn nhân đó là sự chung thủy của người chồng. Bên cạnh đó, Luật La Mã còn tồn tại hai hình thức hôn nhân là cum manu (dưới quyền chồng) và sine manu (không dưới quyền chồng), điều này không tồn tại trong Luật Hamurabi.

- Thủ tục kết hôn: Hai bộ luật có những điểm khác nhau cơ bản về thủ tục kết hôn. Theo bộ luật Hammurabi, hôn thú là bắt buộc. Bộ luật còn quy định về tiền ăn hỏi, và tiền để phục vụ cưới. Trong khi đó, luật La Mã không quy định thủ tục hôn nhân mà chỉ coi đó là một hành vi không chính thức, mang tính cá nhân, gồm các hình thức trộm vợ, mua vợ, thủ tục theo tín ngưỡng tôn giáo hay theo thời hiệu kết hôn.

- Điều kiện kết hôn: Trong khi luật La Mã quy định về điều kiện kết hôn thì luật Hammurabi lại không. Ở La Mã, khi hai người chưa sống độc lập, kết hôn cần phải có sự đồng ý của gia chủ hoặc sự can thiệp của quan chấp chính. Ngoài ra, còn quy định độ tuổi kết hôn tối thiểu (nam: 14 tuổi, nữ: 12 tuổi); chỉ được kết hôn khi hai bên có đủ quyền công dân; tại thời điểm kết hôn phải chưa có vợ (hoặc chồng), hoặc đã kết thúc hôn nhân trước… Những quy định về kết hôn của luật La Mã tương đối tiến bộ so với bộ luật Hammurabi. Luật La Mã xác lập chế độ hôn nhân tự do, người chồng chỉ có một vợ chính thức, quy định chặt chẽ điều kiện kết hôn, không quy định tiền ăn hỏi và tiền cưới. So với điều kiện kinh tế xã hội thời đó, những quy định này hết sức tiến bộ.

b. Ly hôn:

Bộ luật Hammurabi quy định khá rõ và chi tiết về vấn đề ly hôn như: điều kiện ly hôn, việc chia tài sản, vấn đề quyền nuôi hay quyền tái hôn. Tuy nhiên, bộ luật Dân sự La Mã lại không có nhiều điều luật quy định về vấn đề này.

- Yêu cần và điều kiện ly hôn: Luật Hammurabi cho phép người chồng bỏ vợ trong các trường hợp: người vợ không sinh con; không chu đáo hoặc bị chồng cho là đã ngoại tình. Tuy nhiên, khi người vợ đang bị bệnh nặng, người chồng không được phép ly hôn. Người vợ có quyền ly hôn khi người chồng đi khỏi nhà không có lý do, chồng có quan hệ ngoại tình hay vu cáo vợ ngoại tình (Điều 142, 136 và 132). Nếu người vợ bị bệnh và không muốn tiếp tục sống ở nhà chồng, cô ta cũng được phép trả lại của hồi môn và ra đi (Điều 149).

Luật La Mã thì cho phép ly hôn khi hai người không muốn chung sống nữa. Người vợ có thể ly hôn trong trường hợp người chồng không chung thuỷ hoặc có phạm tội giết vợ. Trong trường hợp không kết hôn theo conventio in manum, mỗi bên có thể đơn phương chấm dứt hôn nhân.

- Vấn đề phân chia tài sản sau ly hôn: Theo luật Hammurabi, khi ly hôn, phần tài sản của ai vẫn thuộc về người đấy. Tài sản vợ chồng tạo dựng trong thời kì hôn nhân thuộc về người chồng, của hồi môn phải trả về cho người vợ. Ngoài ra, nếu việc ly hôn xuất phát từ lý do người vợ không sinh con, người chồng phải trả thêm cho vợ một khoản tiền nữa (Điều 138). Tuy nhiên, nếu việc ly hôn do người vợ hư hỏng, người vợ sẽ không được bất cứ tài sản gì (Điều 141).

Trong luật La Mã, khi ly hôn, của hồi môn có thể bị gia đình vợ hay vợ đòi lại. Song, chồng có thể thu hồi lại của hồi môn bằng việc kháng cáo hoặc giữ lại một phần để nuôi con cái. Sau khi ly hôn, người chồng phải giải phóng cho vợ của hồi môn.

- Vấn đề nuôi con sau khi ly hôn: Theo luật Hammurabi, nếu người chồng muốn bỏ vợ, anh ta phải trao cho cô ta một số tài sản để nuôi con. Cô ta cũng được quyền hưởng lợi, được chia một số tài sản khi con cái trưởng thành, được quyền lấy chồng mới. Trong khi đó, theo luật La Mã, người chồng là người được nuôi con và được giữ lại một phần của hồi môn để nuôi nấng con cái.

- Vấn đề tái hôn: Ở bộ luật Hammurabi, đối với người chống, việc tái hôn không chịu ràng buộc. Người vợ chỉ được tái hôn khi có sự chấp thuận của thẩm phán. Mục đích là bảo vệ quyền lợi cho các con chưa thành niên của người chồng đã chết hoặc được coi như đã chết (Điều 177). Tuy nhiên, khi người chồng cũ trở về, quan hệ hôn nhân trước phải được tái lập. Luật La Mã không có quy định về vấn đề này.

Như vậy, bộ luật Hammurabi có điểm tiến bộ là đã quy định cụ thể, chặt chẽ hơn, và bảo vệ quyền lợi phụ nữ khi ly hôn. Luật Hamurabi còn tiến bộ trong cả việc quan tâm đến con cái sau khi ly hôn, hay cho phép người vợ nuôi con sau khi ly hôn.

c. Quan hệ gia đình:

Cả hai bộ luật Hammurabi và La Mã đều xác lập chế độ gia đình gia trưởng phụ quyền. Người cha, người chồng có quyền hành gần như tuyệt đối trong gia đình. Vợ và các con đều ở địa phụ thuộc người cha. Người vợ phải chung thuỷ với chồng, có nhiệm vụ chăm sóc gia đình, sống trong nhà chồng. Con có nghĩa vụ phải kính trọng cha mẹ, nuôi dưỡng cha mẹ. Mặc dù vậy, các quy định cụ thể ở hai bộ luật lại tương đối khác nhau. Nhìn chung, luật La Mã có nhiều quy định điều chỉnh các mối quan hệ trong gia đình hơn bộ luật Hammurabi.

- Quan hệ vợ chồng: Luật La Mã quy định vợ chồng phải tôn trọng nhau, bất kỳ là đẳng cấp nào. Người vợ phải sống ở nhà chồng, nuôi dạy con cái và chung thuỷ. Tội ngoại tình có thể bị xử tử. Quyền của người chồng phụ thuộc vào đẳng cấp của hai người. Bộ luật Hamurabi thì xây dựng trên hình mẫu gia trưởng. Người chồng làm chủ trong gia đình. Quyền lực của họ rất lớn đến mức có thể đem vợ mình đi làm con tin để gán nợ (điều 117). Người Lưỡng Hà cổ đại còn thừa nhận chế độ đa thê, do đó mà pháp luật phải can thiệp để quy định sự trên dưới của các bà vợ. Người đàn ông có thể lấy vợ lẽ để có thêm con, có thể mang vợ lẽ về nhà nhưng không được đối xử với vợ lẽ như đối với vợ cả (Điều 145).

- Quan hệ cha mẹ - con cái: Bộ luật Hammurabi đã gần như tuyệt đối hóa quyền lực của người cha trong gia đình. Trong khi người cha ở Lưỡng Hà cổ đại có quyền bán con mình hoặc đem đi làm tin (điều 117) thì người cha trong gia đình La Mã không thể làm như vậy. Theo luật Hammurabi, tài sản của con cái trong gia đình đều thuộc về người cha, còn luật La Mã lại có quy định rõ ràng về tài sản giữa cha mẹ và con cái.

- Chấm dứt quan hệ cha mẹ và con cái: Luật Hammurabi hạn chế việc chấm dứt quan hệ cha mẹ và con cái theo ý chí riêng của các bên (điều 168). Trong khi đó, luật La Mã lại nới lỏng vấn đề này.

- Nhận con nuôi: Luật Hammurabi có một số những quy định hết sức tiến bộ về việc nhận con nuôi. Con nuôi phải kính trọng và biết ơn công lao nuôi dưỡng của cha mẹ nuôi (điều 185). Bố mẹ không được phân biệt đối xử giữa con đẻ và con nuôi, không được cưỡng đoạt con người khác về nuôi (điều 186 và 190). Quyền lợi của con nuôi được pháp luật bảo vệ (điều 191). Ngược lại, pháp luật La Mã lại có những quy định chặt chẽ về điều kiện nhận con nuôi như bố mẹ phải có khả năng nuôi con nuôi, và phải hơn con nuôi ít nhất 18 tuổi… Điểm tiến bộ của luật La Mã là việc hạn chế quyền lực của người cha, người chồng trong gia đình, giết con là có tội và người đàn ông không được bán vợ con của mình. Nhưng, bộ luật Hammurabi lại chứa đựng tư tưởng chủ đạo: bảo tồn tính bền vững của gia đình, đề cao đạo đức xã hội. Bộ luật này trừng trị nặng hành vi trái luân thường đạo lý như việc con cái hành hung cha mẹ,…

d. Thừa kế:

Cả hai bộ luật đều đã phân chia hai hình thức thừa kế cơ bản là thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật. Riêng luật La Mã có thêm thừa kế theo lệnh các quan.

- Thừa kế theo pháp luật: Luật La Mã có những quy định về thừa kế theo pháp luật hết sức cụ thể. Trong đó có sự phân chia gồm 5 hàng thừa kế. Mỗi hàng thừa kế lại chia thành các bậc thừa kế. Theo cách chia thừa kế của luật Hammurabi, thời gian đầu, tài sản tập trung ở dòng họ và dần dần được chuyển về gia đình có quyền thừa kế và trở thành tài sản của gia đình.

- Thừa kế theo di chúc: Luật La Mã quy định khá chặt chẽ các điều kiện lập và có hiệu lực của di chúc. Người lập di chúc phải từ 12 tuổi (nữ), từ 14 tuổi (nam) trở lên, không bị tâm thần, không phạm trọng tội. Di chúc viết phải được chứng thực, di chúc miệng phải có bảy người làm chứng. Người thừa kế phải được chỉ định rõ ràng, chính xác và phải là người có khả năng trở thành người thừa kế. Ngoài ra, để di chúc có hiệu lực thì nó không được phép “im lặng bỏ qua” đối với hàng thừa kế thứ nhất.  Người lập di chúc có quyền sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ di chúc vào bất kỳ lúc nào. Di chúc sau có giá trị hơn di chúc trước. Luật La Mã không cho phép chia một di sản vừa theo di chúc vừa theo luật. Ở thời kỳ đầu, di tặng không bị hạn chế nhưng đến thời Justinian, di tặng không được quá ¼ tổng di sản. Di tặng không tính vào khối di sản.

Bộ luật Hammurabi đã hạn chế quyền tự do của người viết di chúc như quy định người cha không được tước quyền thừa kế của con trai nếu người con mới phạm lỗi lần đầu và lỗi không nghiêm trọng. Con trai, con gái đều được hưởng quyền thừa kế ngang nhau. Con ngoài giá thú của chủ nô đối với nữ nô lệ, nếu được người cha thừa nhận những đứa con này là của mình thì họ cũng được quyền hưởng thừa kế.      

C. KẾT LUẬN

Như vậy, bài viết trên đã tìm hiểu sự giống nhau và khác nhau giữa chế định hôn nhân được quy định trong luật dân sự La Mã và luật Hammurabi, cũng như ưu điểm, sự tiến bộ của mỗi bộ luật. Nhìn chung, luật La Mã có nhiều quy định rất tiến bộ, thể hiện sự tự do hôn nhân, bảo đảm quyền lợi tương đối ngang bằng cho các bên trong quan hệ gia đình. Còn các quy định của bộ luật Hammurabi lại hướng đến mục đích đảm bảo sự bền vững của gia đình trong xã hội Lưỡng Hà./.

Danh mục tài liệu tham khảo:



1. Trường đại học Luật Hà Nội, Giáo trình lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới, Nxb. CAND, Hà Nội, 2003;

2.  Nguyễn Anh Tuấn – Khảo lược bộ luật Hammurabi của nhà nước Lưỡng Hà cổ đại – NXB Chính trị quốc gia – 2008;

3.  Nguyễn Ngọc Đào – Luật La Mã – Khoa Luật đại học Tổng hợp Hà Nội – 1994.

Và một số tài liệu tham khảo khác.

No comments:

Post a comment