06/05/2014
Bài tập học kỳ Luật Tố tụng Dân sự - Phạm vi xét xử vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm
Để giải quyết đúng vụ án dân sự và bảo vệ được quyền và lợi ích của các đương sự pháp luật tố tụng dân sự hiện hành quy định một vụ án được xét xử qua cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm, bên cạnh đó còn có thủ tục đặc biệt là giám đốc thẩm và tái thẩm. Vì có sự phân cấp xét xử nên thẩm quyền, phạm vi của từng cấp xét xử cũng được quy định một cách khá cụ thể ở trong BLTTDS 2004. Việc nghiên cứu phạm vi xét xử của tòa sơ thẩm và phúc thẩm có ý nghĩa hết sức to lớn về mặt lý luận và thực tiễn. Chính vì lý do đó, trong bài tập lớn cuối kỳ em xin chọn đề tài: “ Phạm vi xét xử xét xử vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm và kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật liên quan đến vấn đề này ”

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1. Phạm vi xét xử vụ án dân sự của Tòa án theo quy định của Luật tố tụng dân sự

Khái niệm phạm vi xét xử của tòa án 

Khái niệm phạm vi xét xử của tòa án hiện nay chưa được quy định ở trong Luật tố tụng dân sự. Khái niệm phạm vi xét xử trong tố tụng dân sự cũng có nội hàm gần với khái niệm giới hạn xét xử trong tố tụng hình sự. Theo đó, có thể hiểu rằng,giới hạn hay phạm vi xét xử của tòa án không phải là vô hạn, thể hiện ý chỉ chủ quan của cơ quan tiến hành tố tụng mà nó được luật hóa. Tùy vào nội dung, tính chất của vụ việc đưa ra xét xử. Nếu như trong tố tụng hình sự quy định giới hạn xét xử của tòa án chính là phạm vi những người, những hành vi mà Viện kiểm sát truy tố trong cáo trạng và quyết định đưa vụ án ra xét xử. Chính yếu tố này, làm cho tòa án luôn là cơ quan xét xử chứ không phải là cơ quan buộc tội. Trong tố tụng dân sự, vi tính chất của dân sự là việc tư của đương sự, nên bao giờ luật cũng tôn trọng sự thỏa thuận của các bên. Tòa án trong xét xử vụ việc dân sự chỉ là cơ quan đứng ra giải quyết những mối xung đột, những sự kiện pháp lý mà đương sự cung cấp. Vì vậy, khác với tòa án hình sự là dựa trên cáo trạng của Viện kiểm sát thì trong tố tụng hình sự Tòa án xác định phạm vi xét xử của mình dựa trên cơ sở yêu cầu của đương sự, thể hiện ở hình thức là đơn kiện, đơn yêu cầu.


Từ những phân tích trên em xin đưa ra một cách hiểu về phạm vi xét xử của tòa án trong tố tụng dân sự: “Phạm vi xét xử của tòa án là những nội dung mà Tòa án được xem xét, giải quyết trên cơ sở yêu cầu của đương sự và tiến hành dựa trên quy định của pháp luật tố tụng dân sự”

Ý nghĩa của phạm vi xét xử vụ án dân sự

Việc xác định phạm vi xét xử vụ án dân sự của tòa án một cách hợp lý, khoa học trên cơ sở tôn trọng quyền định đoạt của các đương sự và các nguyên tắc khác của luật tố tụng hình sự tránh được tình trạng Tòa án quá “dài tay” trong việc xét xử. Phạm vi xét xử của Tòa án còn tạo điều kiện cần thiết cho Tòa án giải quyết đúng và trúng nội dung vụ án, góp phần cho tòa án giải quyết nhanh chóng và đúng đắn các vụ án dân sự. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự. 

Cơ sở của việc quy định phạm vi xét xử

Thứ nhất: Theo nguyên tắc quyền tự định đoạt của các đương sự: Đây là một trong những nguyên tắc đảm bảo quyền tham gia tố tụng của các đương sự. Theo đó, các đương sự có quyền trong việc tự quyết định quyền, lợi ích của họ và lựa chọn biện pháp pháp lý cần thiết để bảo vệ quyền, lợi ích đó. Quyền tự định đoạt của các đương sự được quy định là một nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng dân sự. Nội dung của nguyên tắc quyền định đoạt của đương sự xác định quyền của đương sự tự quyết định về việc tham gia tố tụng dân sự, tự quyết định quyền và nghĩa vụ của họ trong tố tụng dân sự theo quy định của pháp luật và trách nhiệm của tòa án giải quyết trongphạm vi yêu cầu của đương sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Như vậy, để phù hợp với nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự nói riêng và các nguyên tắc trong giao lưu dân sự nói chung thì LTTDS quy định về phạm vi xét xử sơ thẩm tại điều 5 Luật tố tụng dân sự.

Thứ hai:Dựa vào tính chất của quan hệ dân sự:

Khác với tính chất của quan hệ pháp luật hình sự là mối quan hệ giữa một bên là người thực hiện tội phạm và một bên là nhà nước, lợi ích bảo vệ bị xâm phạm là những lợi ích công được pháp luật hình sự bảo vệ. Đối với quan hệ dân sự, gồm có quan hệ nhân thân và tài sản. Tính chất dân sự của quan hệ dân sự chính là “ việc tư ” của cá nhân, tổ chức. Những loại vụ việc dân sự phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự do Luật dân sự, Luật lao động, Luật thương mại, Luật hôn nhân gia đình… điều chỉnh. Chỉ có chủ thể yêu cầu, khởi kiện mới mới là người biết rõ những nội dung vụ việc được đưa ra khởi kiện, yêu cầu.

Thứ ba: Dựa vào nguyên tắc hai cấp xét xử

Cấp sơ thẩm tiến hành trình tự, thủ tục giải quyết vụ án lần thứ nhất. Tất cả các vụ án nếu đưa ra xét xử thì đều phải tiến hành qua cấp sơ thẩm. Đây là cấp xét xử không thể thiếu và có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án. Lý luận và thực tiễn đều cho thấy, nếu cấp sơ thẩm xét xử chính xác, nghiêm túc thì bản án sẽ ít bị kháng cáo hoặc kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, từ đó vụ án sẽ không bị kéo dài. Do đó, đối với một vụ việc dân sự thì tòa án sơ thẩm có phạm vi xem xét tất cả những vấn đề mà đương sự yêu cầu, khởi kiện ở trong đơn kiện. Điều này đảm bảo cho việc xét xử vụ việc dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm được chính xác và đảm bảo tính toàn diện trong giới hạn những gì mà đương sự yêu cầu, khởi kiện trong đơn. Tòa án cấp phúc thẩm với tính chất là xem xét lại những nội dung mà tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết nhưng bị kháng cáo, kháng nghị.

Nội dung của phạm vi xét xử của tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm theo quy định của luật tố tụng dân sự

1.4.1 Nội dung của phạm vi xét xử vụ án dân sự của tòa án cấp sơ thẩm

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 5 Luật tố tụng dân sự (LTTDS) thì “ …Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó”.

Như vậy, LTTDS đã quy định khá rõ về phạm vi xét xử của tòa án sơ thẩm. Theo đó, phạm vi xét xử của Toà án chính là quan hệ pháp luật nội dung tranh chấp giữa các bên đương sự, biểu hiện ở đơn yêu cầu, đơn khởi kiện của các đương sự. Để đảm bảo cho phạm vi xét xử của tòa án cũng như bảo vệ quyền lợi của đương sự Luật tố tụng dân sự quy định đương sự được quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu tại phiên tòa sơ thẩm. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử (HĐXX) chỉ chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự, nếu không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu. Nghị quyết số 02 ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (HĐTPTANDTC) hướng dẫn, “yêu cầu ban đầu là yêu cầu được thể hiện trong đơn khởi kiện của nguyên đơn, đơn phản tố của bị đơn, đơn yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” còn “không được vượt quá yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập ban đầu là không vượt quá phạm vi yêu cầu ban đầu”. Việc quy định quyền bổ sung, thay đổi yêu cầu của các đương sự, một mặt đảm bảo quyền tự do định đoạt của đương sự, một mặt tạo “khung” cho phạm vi xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm.

Liên quan đến phạm vi xét xử của tòa án cấp sơ thẩm BLTTDS còn quy định về trường hợp rút yêu cầu của đương sự . Theo đó, rút yêu cầu là việc đương sự từ bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu mình đã đưa ra. Điều 218 BLTTDS quy định: “Trong trường hợp đương sự rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của mình và việc rút yêu cầu của họ là tự nguyện thì HĐXX chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu hoặc toàn bộ yêu cầu đã rút ”. Khi đương sự rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của mình đưa ra thì tòa án chỉ có quyền xét xử trong phạm vi những yêu cầu chưa được rút (còn giữ lại để giải quyết). 

Như vậy, hiểu phạm vi xét xử của tòa án cấp sơ thẩm không chỉ là theo quy định tại Điều 5 BLTTDS mà còn những quy định liên quan. Phạm vi xét xử của tòa án phụ thuộc vào nội dung và đương sự yêu cầu. Cho nên, phạm vi xét xử của phiên toà sơ thẩm dân sự là yêu cầu của đương sự được xác định công khai tại phiên toà, chứ không phải chỉ là những nội dung ghi ở trong đơn khởi kiện, hay yêu cầu mà tòa án nhận được khi đương sự nộp cho Tòa ở thời điểm ban đầu.

1.4.2 Phạm vi xét xử vụ án dân sự của Tòa án cấp phúc thẩm

Về nguyên tắc, bản án quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị phần nào thì chỉ phần đó chưa có hiệu lực thi hành và sẽ đưa ra xét xử theo trình tự phúc thẩm. Phần còn lại của bản án, quyết định không bị kháng cáo, kháng nghị sẽ phát sinh hiệu lực và có hiệu lực thi hành. Trường hợp bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo kháng nghị toàn bộ thì toàn bộ bản án, quyết định bị xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Điều 263 Bộ luật tố tụng dân sự quy định “ Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại phần của bản án, quyết định sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị ”

Như vậy, nội dung (phạm vi) phúc thẩm là chỉ xét lại những nội dung do đương sự kháng cáo và bị giới hạn bởi phạm vi mà bản án sơ thẩm đã giải quyết. Nói cách khác, toà phúc thẩm chỉ xét xử trong phạm vi những nội dung mà tòa sơ thẩm đã xét xử và đương nhiên chỉ những phần đương sự kháng cáo. Toà phúc thẩm không thể giải quyết những yêu cầu mới vì nếu như vậy sẽ vừa xét xử sơ thẩm vừa xét xử phúc thẩm ngay nên sẽ vi phạm nguyên tắc hai cấp xét xử. Tuy nhiên việc đề xuất các chứng cứ mới trước tòa phúc thẩm để biện giải cho các yêu cầu của mình là quyền của đương sự và nó hoàn toàn khác với các yêu cầu mới. 

Tóm lại, theo quy định tại Điều 263 thì phạm vi xét xử phúc thẩm được giới hạn bởi 2 vấn đề: Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét những vấn đề mà tại phiên tòa sơ thẩm đã giải quyết và Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị và những vấn đề có lien quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị.

*) Phạm vi kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm dân sự.

Trên cơ sở Điều 263 chúng ta có thể nhận thấy phạm vi kháng cáo của đương sự và kháng nghị của VKS được giới hạn trong những vấn đề Tòa sơ thẩm đã xử. Chủ thể có quyền kháng cáo, kháng nghị không được phép kháng cáo, kháng nghị về những vấn đề mới, chưa được xem xét ở Tòa án sơ thẩm. Giải thích một cách cụ thể hơn thì “ Đương sự có quyền kháng cáo nhưng mỗi đương sự chỉ có quyền kháng cáo về phần bản án, quyết định sơ thẩm hoặc bản án, quyết định sơ thẩm có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của đương sự đó, còn những phần bản án, quyết định không có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình thì đương sự không có quyền kháng cáo ”. 

Việc xác định phạm vi kháng cáo, kháng nghị xuất phát từ sự tôn trọng quyền được kháng cáo của đương sự, kháng nghị của VKS theo thủ tục phúc thẩm, tôn trọng 2 cấp xét xử trong TTDS và hơn hết là phù hợp với tính chất xét xử lại của thủ tục phúc thẩm. Nếu những vấn đề này chưa được đưa ra xét xử ở tòa án cấp sơ thẩm thì các chủ thể kháng cáo, kháng nghị không được phép yêu cầu ở cấp phúc thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm cũng không có thẩm quyền thụ lý và giải quyết những yêu cầu ngoài phạm vi đã xét xử sơ thẩm.

LTTDS nước ta tuyệt đối đề cao quyền định đoạt của đương sự, bảo vệ quyền lợi của họ trước Tòa án. Họ hoàn toàn được lựa chọn sẽ kháng cáo vấn đề nào trong những vấn đề Tòa sơ thẩm đã xét xử. Khi một vụ án dân sự xảy ra, xung quanh nó có rất nhiều vấn đề cần được xem xét, giải quyết. Nếu Tòa án sơ thẩm giải quyết mà đương sự thấy chưa thỏa đáng thì họ hoàn toàn có quyền yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết. Nếu đương sự không yêu cầu thì Tòa án cấp phúc thẩm không cần giải quyết vì xét cho cùng việc giải quyết một vụ án dân sự là để thỏa mãn quyền lợi của các bên đương sự. Nên khi họ thấy vấn đề nào đó không ảnh hưởng đến quyền lợi của họ, mục đích của họ đã đạt được, các bên không còn tranh chấp, họ sẽ không có yêu cầu thì việc Tòa án phúc thẩm xét xử là không cần thiết. Thậm chí trong một số trường hợp, Tòa án cấp phúc thẩm khi giải quyết yêu cầu của đương sự phát hiện thấy nhiều vấn đề cần được đưa ra xét xử để đảm bảo tính hợp pháp, đúng với những quy định của pháp luật, nhưng đương sự không có yêu cầu, không kháng cáo thì pháp luật không cho phép Tòa án cấp phúc thẩm được xem xét và giải quyết lại vụ án dân sự.

Tương tự như vậy phạm vi kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm của VKSND cũng phải theo nguyên tắc chỉ kháng nghị về những vấn đề đã xử ở sơ thẩm. Khi VKS không đồng ý với cách giải quyết của Tòa án sơ thẩm thì VKS có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luât. Thậm chí, khi các đương sự không kháng cáo vì họ hài lòng với bản án, quyết định của Tòa án sơ thẩm thì VKS vẫn có quyền kháng nghị nếu thấy cần thiết. Điều này xuất phát từ nhiệm vụ, chức năng của VKS là kiểm sát việc thực hiện và tuân theo pháp luật. Nếu thấy cách giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm chưa hợp lí, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các đương sự trong vụ án dân sự thì VKS có quyền kháng nghị lên Tòa án cấp trên trực tiếp xem xét và giải quyết theo thủ tục phúc thẩm dân sự. 

2. Thực trạng quy định của BLTTDS về phạm vi xét xử vụ án dân sự và kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật liên quan đến vấn đề này.

2.1 Thực trạng

Thứ nhất: Có sự mâu thuẫn giữa BLTTDS và Luật thi hành án dân sự (LTHADS).

LTTDS quy định phạm vi xét xử cấp sơ thẩm của Tòa án là yêu cầu của đương sự, biểu hiện ở đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự. Theo Luật Thi hành án dân sự (LTHADS), trong việc cưỡng chế liên quan tài sản chung, nếu chủ sở hữu chung không khởi kiện xác định phần sở hữu của họ thì người được thi hành án (THA) hoặc chấp hành viên có quyền yêu cầu tòa án xác định phần sở hữu của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để đảm bảo thi hành án. Như vậy, vấn đề ở đây là để thi hành án trong việc chia tài sản chung thì phải có đơn yêu cùa đương sự, như vậy, việc cưỡng chế thi hành án của sẽ gặp nhiều khó khăn nếu đương sự là người thi hành án không hợp tác trong việc chia tài sản chung để đảm bảo thi hành án. Như vậy, chính lỗ hổng này, làm cho công tác cưỡng chế thi hành án gặp nhiều khó khăn. Cụ thể như vụ của ông Nguyễn Văn H ở quận BìnhThạnh (TP.HCM). Năm 2007, ông yêu cầu ông T. phải thi hành bản án trả nợ. Sau đó, ông phát hiện ông T. có một căn nhà ở quận 10 nên yêu cầu THA cưỡng chế, phát mại. Trớ trêu thay căn nhà trên là tài sản chung của ông T. với người chị. Cơ quan THA đã mời các bên liên quan đến để thỏa thuận phân chia tài sản nhưng chị ông T. không đến. Hai chủ sở hữu chung này cũng không thèm khởi kiện ra tòa để xác định phần tài sản riêng của mình.

Thấy bên kia không hợp tác, căn theo LTHADS, ông H. đã khởi kiện ra tòa yêu cầu xác định phần nhà riêng của ông T. Tuy nhiên, tòa án đã trả lại đơn vì cho rằng ông Ông H hay cơ quan THA khởi kiện là không được vì không phải đương sự trong vụ án mà chỉ là người ngoài.

Thứ hai: Chưa có quy định rõ ràng về thẩm quyền của Hội đồng xét xử sơ thẩm.

Điều này xuất phát từ những nguyên nhân khác nhau. Tuy nhiên, ở một góc độ nào đó việc pháp luật tố tụng không quy định thẩm quyền của hội đồng xét xử sơ thẩm dường như đã tạo ra một khoảng trống, một sự không chặt chẽ, một tâm lý không yên tâm. Điều này, không chỉ ảnh hưởng đến tâm lý của đương sự mà còn ảnh hưởng đến việc thực hiện phạm vi xét xử của tòa án ở cấp sơ thẩm. Điều này, có nghĩa là khi LTTDS không quy định về thẩm quyền của Hội đồng xét xử trong việc xem xét yêu cầu của đương sự thì Hội đồng xét xử sơ thẩm hoàn toàn bị động trước những yêu cầu của đương sự

Thứ ba: Một số vấn đề xung quanhquy định bổ sung, thay đổi yêu cầu của các đương sự

+) BLTTDS quy định khá chi tiết về nội dung bổ sung, thay đổi, giới hạn của vấn đề này. Tại nghị quyết số 02 ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (HĐTPTANDTC) cũng đã có hướng dẫn về “yêu cầu ban đầu ” và “ vượt quá yêu cầu ban đầu ”. Tuy nhiên, nếu giải quyết như hướng dẫn của Nghị quyết số 02, quyền tự định đoạt của các đương sự sẽ bị hạn chế. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, các hoạt động cung cấp, thu thậpchứng cứ của các chủ thể nhằm mục đích cho việc giải quyết các yêu cầu đó. Khi Toà án ra quyết địnhđưa ra xét xử tại phiên toà, trong giai đoạn chuẩn bị cho việc mở phiên toà thực chất là việc Toà án nghiên cứu kỹ lại các yêu cầu, các chứng cứ, tài liệu chứng minh cho yêu cầu đó. Nếu chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu trong giai đoạn này, Toà án sẽ phải thông báo cho đương sự phía bên kia, thu thập chứng cứ… tức là lại phải có thời gian để chuẩn bịviệc xét xử cho yêu cầu mới được thay đổi, bổ sung. Điều đó sẽ làm kéo dài quá trình tố tụng và không hợp lý
+) Về “không vượt quá” yêu cầu ban đầu.

Nghị quyết số 02 ngày 12/5/2006 của HĐTPTANDTC hướng dẫn, “không được vượt quá yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập ban đầu là không vượt quá phạm vi yêu cầu ban đầu”. Có thể thấy, hướng dẫn trên chưa làm rõ được cụm từ “phạm vi” là phạm vi quan hệ pháp luật tranh chấp hay phạm vi về giá trị yêu cầu. Việc hướng dẫn không rõ ràng này có thể dẫn đến cách hiểu “ không được vượt quá yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập ban đầu là không được đưa thêm yêu cầu mới đồng thời không được tăng giá trị yêu cầu, có nghĩa không được gây bất lợi cho các đương sự khác”. Theo quy định của PLTTDS hiện hành, trong suốt quá trình giải quyết vụ án các đương sự đều có quyền cung cấp chứng cứ, tài liệu mới và thực tế đã chứng minh nhiều trường hợp những chứng cứ quan trọng thường được các đương sự giữ kín đến phiên toà sơ thẩm hoặc phúc thẩm mới xuất trình. Những chứng cứ mới đó có thể làm tăng giá trị yêu cầu hoặc giảm nghĩa vụ phải thực hiện của đương sự. Vì vậy, chỉ khi nào những chứng cứ mới làm phát sinh một quan hệ pháp luật mới mới gây sự bất lợi cho đương sự phía đối lập và cần phải được tách riêng để giải quyết bằng một vụ việc khác. Còn nếu chỉ là sự gia tăng về giá trị yêu cầu nhưng không làm phát sinh thêm quan hệ pháp luật mới cần giải quyết thì vẫn được chấp nhận.

2.2 Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật có liên quan đến vấn đề phạm vi xét xử sơ thẩm, phúc thẩm

Thứ nhất:Để hạn chế việc vượt quá phạm vi, giới hạn xét xử, đòi hỏi đầu tiên là tòa phải cẩn trọng xem xét cáo trạng truy tố, yêu cầu khởi kiện hoặc nội dung kháng cáo, kháng nghị. Cạnh đó, tòa cũng cần cân nhắc thật kỹ những nội dung, yêu cầu mới phát sinh để tránh việc xem xét cả những vấn đề vượt quá thẩm quyền, nằm ngoài phạm vi xét xử. Cần xét xử tới đâu thì tòa chỉ nên xét xử tới đó, như dân gian thường nói vui là “tố tới đâu thì tụng tới đó”. Để khắc phục tình trạng tòa “dài tay” , khi cảm thấy có nhiều vấn đề trong vụ án còn lấn cấn, tòa nên thực hiện các thủ tục theo luật định như trả hồ sơ điều tra bổ sung, yêu cầu các bên làm rõ, kiến nghị tòa cấp trên khắc phục… 

Thứ hai: Mặc dù LTHADS quy định rõ việc khởi kiện của người được THA, chấp hành viên về vấn đề tài sản chung nhưng tòa từ chối thụ lý cũng có lý của tòa. Tòa thì theo quy định của BLTTDS để làm và tòa làm đúng. Nhưng căn theo LTHADS thì cơ quan THA có quyền… thắc mắc. Để tránh tình trạng mâu thuẫn này, thiết nghĩ cũng phải có hướng dẫn. Các cơ quan chức năng cần bàn bạc để thống nhất với nhau, tránh đưa ra quy định trái ngược nhau.

Thứ ba: Cần quy định về thẩm quyền của Hội đồng xét xử sơ thẩm

Cấp sơ thẩm là cấp xét xử thứ nhất nên đối tượng xét xử của nó không thể là bản án, quyết định mà là các yêu cầu về dân sự rất phong phú của các đương sự. Theo Điều 25 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (BLTTDS), thì có tới 8 loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, trong mỗi loại việc lại có rất nhiều các yêu cầu cụ thể khác nhau. Vì phạm vi xét xử của cấp sơ thẩm quá rộng lớn nên không thể ấn định trước về thẩm quyền của hội đồng xét xử sơ thẩm. Tuy nhiên, sẽ không phải là thừa nếu pháp luật tố tụng có điều luật quy định thẩm quyền của hội đồng xét xử sơ thẩm. Tất nhiên, không thể quy định cụ thể cho mọi trường hợp, nhưng nếu nhà làm luật quan tâm tới vấn đề này thì đó là điều hợp lý. Theo em, cần quy định thẩm quyền của hội đồng xét xử sơ thẩm là: chấp nhận toàn bộ yêu cầu của đương sự; chấp nhận một phần yêu cầu của đương sự; không chấp nhận yêu cầu của đương sự.

Thứ tư: Cần sửa Khoản 1 Điều 218

Như phân tích ở trên thì mặc dù có hướng dẫn, giải thích về vấn đề “ yêu cầu ban đầu ” và “vượt quá yêu cầu ban đầu”. Tuy nhiên, trên thực tế thì vẫn còn gây nhầm lẫn và khó hiểu.Chỉ khi nào, PLTTDS Việt Nam có quy định về thời hạn cung cấp, giao nộp chứng cứ của các đương sự thì yêu cầu về tăng giá trị mới có thể không được chấp nhận. Từ thực trạng trên thiết nghĩ rằng: trước mắt, nếu giữ nguyên quy định về việc đương sự có quyền cung cấp chứng cứ trong suốt quá trình tố tụng thì cần sửa khoản 1 Điều 218 BLTTDS theo hướng: “Tại phiên toà sơ thẩm, đương sự có quyền thay đổi, bổ sung nếu không làm xuất hiện thêm đương sự mới, không làm phát sinh thêm quan hệ pháp luật mới cần giải quyết”.

KẾT LUẬN:

Qua nghiên cứu về phạm vi xét xử vụ án dân sự và một số quy định có liên quan thì có thể thấy phạm vi xét xử của Tòa án mặc dù được quy định khá cụ thể và rõ ràng ở trong luật nhưng khi áp dụng trên thực tế thì vẫn còn gặp một số vướng mắc nhất định. Việc hoàn thiện những quy định của pháp luật sẽ tạo cơ sở cho các cấp Tòa án có sự phân định rõ về phạm vi trên thực tế, góp phần hạn chế vụ án có thể bị kéo dài vì tòa án xử quá dài tay.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ luật tố tụng dân sự 2004;
2. Trường Đại học luật Hà Nội, Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb, Tư pháp, Hà Nội 2005;
3. Ths. Ls Phạm Thị Thanh Nga, Hỏi đáp về thủ tục giải quyết và thi hành án dân sự (tập 1), Nxb Lao động – xã hội, Hà Nội 2005;
4. Lg: Nguyễn Thị Minh Huệ, 266 câu hỏi và trả lời về Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, Nxb Lao động - xã hội, Hà Nội 2004;
5. Ts. Nguyễn Quang Hiển, Thực hiện chế độ hai cấp xét xử - cơ chế bảo vệ quyền con người trong tố tụng dân sự, Tạp chí nghiên cứu lập pháp điện tử;
6. http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2008/02/19/12430/;
7. http://vietnamese-law-consultancy.com/vietnamese/;
8. http://luathoc.cafeluat.com/showthread.php/5236-THUC-TIEN-THI-HANH-AN-DAN-SU-THIEU-HUONG-DAN-THI-HANH-AN-LUNG-TUNG

Nếu muốn download, xin vui lòng điền vào form tại đây và gửi tối thiểu 01 bài tập của 4 kì gần nhất đạt trên 7 điểm và chưa từng đăng tại blog này vào email baitapluat@gmail.com hoặc inbox facebook Diệp Hân Đặng. Những bạn nào không gửi bài tập, mình xin phép không gửi link download tài liệu lại. Cảm ơn đã ghé thăm blog và xin lỗi vì đã làm phiền các bạn!

No comments:

Post a comment